39- Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị - Đà Lạt
Theo tài liệu [1] : Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị được thành lập vào năm 1966 tại Đà Lạt,trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn. Trường có nhiệm vụ đào tạo về phương diện chiến tranh chính trị cho Sĩ Quan sau khi rời trường Vơ Bị, Vơ Khoa để trở thành những cán bộ Tuyên Vận .
Nhưng theo tài liệu [2] : Chiến Tranh Chánh Trị bao gồm nhiều lảnh vực rộng lớn,biến dạng đôi khi hư hư thực thực chứ không phài chỉ giới hạn cố định trong Tuyên Vận !
Thật vậy :
Nội dung hoạt động căn bản của ngành Chiến Tranh Chánh Trị là “Lục Đại Chiến”, tức là 6 trận chiến lớn chống đối phương, bao gồm: Tư Tưởng Chiến, Mưu Lược Chiến, Tổ Chức Chiến, T́nh Báo Chiến, Tâm Lư Chiến và Quần Chúng Chiến.
1-Tư Tưởng Chiến :
Tư tưởng là yếu tố quan trọng nhất, v́ tư tưởng hướng dẫn hành động, có tư tưởng đúng mới hành động đúng và tích cực;
Nổ lực của ngành CTCT trong QLVNCH là làm cho nhân dân và chiến sĩ hiểu rơ được cuộc chiến đấu của quân dân Miền Nam là chính nghĩa, cụ thể là bảo vệ tự do, dân chủ cho nước Việt Nam Cộng Ḥa, trước cuộc xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt.
2- Mưu Lược Chiến :
Nhận thức đúng, hành động đúng, nhưng phải hành động như thế nào để đạt kết quả to lớn mà tổn thất rất nhỏ th́ mới hữu hiệu. Đó là phải dùng “cái trí”, mưu trí trong việc dụng binh cũng như ở tất cá h́nh thức đấu tranh.
Mưu lược chiến nói chung là những suy nghĩ sáng tạo trong việc áp dụng chiến thuật, chiến luợc đối với kẻ thù.
3-Tổ Chức Chiến :
Tổ chức (Organize) là sắp xếp các bộ phận cho có hệ thống, hoạt động ăn khớp với nhau trong việc thực hiện một công tác, một chiến dịch. Công việc càng phức tạp, có liên hệ đến nhiều cơ quan, th́ cần phải được tổ chức thật chu đáo, mang tính hợp lư và khoa học, như trong một bộ máy, những trục, những bánh xe răng phải hoạt động ăn khớp chặt chẽ với nhau th́ máy mới vận hành được.
Tóm lại ngành CTCT, người sĩ quan CTCT phải có óc tổ chức để thực hiện từng công tác về dân vận, binh vận, địch vận, tuyên truyền, phản tuyên truyền cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể đang xảy ra.
4-T́nh Báo Chiến :
T́nh báo được định nghĩa tổng quát là những hành động thu thập, nghiên cứu, tổng hợp, xử lư những tin tức và tài liệu bí mật về quân sự, chính trị, quốc pḥng, an ninh, khoa học kỹ thuật đối phương .
T́nh báo là thu thập, báo cáo t́nh h́nh của địch, một yếu tố rất quan trọng, không những trong chiến tranh mà c̣n quan trọng trong những cạnh tranh về mọi mặt trong xă hội.
5-Tâm Lư Chiến :
Cục Tâm Lư Chiến là cái xương sống của ngành CTCT trong QLVNCH. Chiến tranh tâm lư là chiến tranh về tư tưởng, dùng tư tưởng đánh bại tư tưởng, ư chí và tinh thần của quân địch, đồng thời nâng cao tinh thần quyết thắng của binh sĩ ta. Chiến tranh tâm lư được thực hiện trên mọi lănh vực của xă hội.
Phương tiện chính của CTTL là tuyên truyền và phản tuyên truyền.
Có hai loại tuyên truyền : Tuyên Truyền Công Khai và Tuyên Truyền Bí Mật.
5.1 Tuyên Truyền Công Khai c̣n gọi là tuyên truyền trắng, là dựa vào những tin tức chính thức, có nguồn gốc rơ ràng như những lời tuyên bố của các chức sắc cao cấp như thủ tướng, bộ trưởng hoặc phát ngôn viên chính phủ…từ đó triển khai, phân tích để chứng minh một điều ǵ muốn tuyên truyền .
5.2 Tuyên Truyền Bí Mật có hai dạng đó là Tuyên Truyền Đen và Tuyên Truyền Xám.
5.2.1 Tuyên Truyền Đen :
Tuyên Truyền
Đen là dựa vào những tin tức có nguồn gốc
“gần như có thật”, từ đó phân tích, bổ sung,
tăng cường, thêm mắm dậm muối, làm cho đối
phương hoang mang, bất măn.
5.2.2 Tuyên Truyền Xám :
Tuyên Truyền Xám là dựa vào tin tức “không có nguồn gốc rơ ràng”, hoặc căn cứ vào những sự việc đang xảy ra mà bịa thêm câu chuyện, như: bà con đồn rằng, dư luận cho rằng, người giấu tên cho biết…
Tuyên Truyền Xám mang tính đánh phá nhẹ nhàng, tưởng chừng như vô hại, nhưng tác dụng rất thâm hậu. Cái “không có” mà được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, khiến cho người nghe, từ hoang mang cho đến chỗ tin là “có thật”.
5.3 Phản Tuyên Truyền :
Phản Tuyên Truyền là căn cứ vào những lời tuyên truyền của địch về những chương tŕnh, những chủ trương sẽ đem ra thi hành, từ đó, diễn dịch, phân tích mặt sai trái, tiêu cực, tác hại… mục đích cản trở, phá hỏng kế hoạch của đối phương.
6-Quần Chúng Chiến :
Quần Chúng Chiến là việc tranh thủ, vận động sự ủng hộ, hợp tác, tham gia của quần chúng nhân dân. Vai tṛ của quần chúng rất quan trọng trong chiến tranh Việt Nam.
Khẩu hiệu của Trường Đại Học
Chiến Tranh Chính : Trí-Nhân-Dũng-Thành .
Hiệu kỳ của Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị trích từ tài liệu [1] & [3] & [4]
Sau đây lược sử thành lập của Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị trích từ tài liệu [5] & [6] & [7] & [8] & [9] & [10] :
Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị (ĐHCTCT) thoát thai từ Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai thành lập năm 1956.
Sau v́ nhu cầu Chiến Tranh Tâm Lư (CTTL) mỗi ngày một gia tăng, Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai không c̣n huấn luyện về Chiến Tranh Tâm Lư nữa, nên từ năm 1961 ,Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai tách ra làm hai phần :
1-Trường Quân Báo Cây Mai (Xem thêm chi tiết trong bài Trường Quân Báo Cây Mai của cùng tác giả) .
2-Và Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Tâm Lư (HL/CTTL ) trực thuộc Nha CTTL- Bộ Quốc Pḥng. Trụ sở đầu tiên của Trung Tâm này tọa lạc tại số 15, đường Lê Thánh Tôn,Quận 1-Sàig̣n với khóa huấn luyện cao cấp nhất của nghành CTTL là khóa Tham Mưu CTTL gần hơn 100 học viên từ cấp Đại Úy tới Đại Tá.
Sau đó từ trung tuần tháng 10 năm 1964, Trung Tâm HL/CTTL được dời về trại Lê Văn Duyệt-Quận 3-Sài g̣n và biến cải thành một quân trường mang tên Trường Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) trực thuôc Cục Chính Huấn trong hệ thống Tổng Cục CTCT.
Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tọa lạc trên Đại Lộ Thống Nhất,quận 1-Sài g̣n, đối diện với Trường Văn Hóa Quân Đội . (Xem thêm chi tiết trong bài Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị của cùng tác gỉa) .
Theo đà tiến bộ của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) đ̣̣i hỏi một lớp cán bộ CTCT hiện dịch, có tŕnh độ văn hóa cấp bậc đại học để cung ứng cho nghành CTCT, nên Trường CTCT được biến cải thành Đại Học Chiến Tranh Chính Trị theo sắc lệnh số 48/SL/QP ngày 18/3/1966.
Trường ĐH/CTCT tọa lạc tại số 78 đường Vơ Tánh, Đà Lạt (cơ sở cũ của Trung Tâm Huấn Luyện Hiến Binh Quốc Gia ).
Trường ĐH/CTCT chính thức hoạt động ngày 01 tháng 01 năm 1967 .
Đến đầu năm 1973, Trường ĐH/CTCT được cải biến thành 2 Cơ Sở: Cơ sở cũ dành huấn luyện Sĩ Quan Khoá Sinh CTCT các cấp từ các đơn vị về thụ huấn. Cơ sở mới nằm trong Khu Chi Lăng ( Trường Chỉ Huy Tham Mưu cũ) dành huấn luyện SVSQ các Khoá Hiện Dịch.
Trường ĐH/CTCT đă được chỉ huy lần lượt bởi hai vị Sĩ Quan Cao cấp. Đầu tiên là Hải Quân Đại tá Lâm Ngươn Tánh từ năm 1967 đến 1971 ( sau là Phó Đề Đốc) và kế đến là Đại Tá Nguyễn Quốc Quỳnh , từ năm 1971 đến 30/04/1975.
Trường ĐH/CTCT tuyển các thanh niên có bằng Tú Tài 2, đầy đủ sức khỏe và phải qua một kỳ thi tuyển. Những thanh niên này phải qua một chương tŕnh huấn luyện 2 năm để trở thành Thiếu Úy hiện dịch trong quân lực.
Ngoài ra, ĐH/CTCT c̣n tiếp nhận các SVSQ Thủ Đức, Đồng Đế, Thiếu Sinh Quân, Hạ Sĩ Quan có đủ điều kiện văn bằng.
Chuơng tŕnh huấn luyện là hai năm, mỗi năm chia làm hai mùa: Mùa Văn Hóa (bao gồm CTCT) và mùa Quân Sự (thụ huấn tại Trường Vơ Bị Quốc Gia).
Chương tŕnh học nhấn mạnh về khoa học xă hội và chính trị. Sinh viên theo học quân sự hàng năm tại trường Vơ Bị Quốc gia Việt Nam để có thể trở thành một Trung Đội Trưởng Bộ Binh và ít nhiều về chiến thuật cấp đại đội. Họ nghiên cứu học thuyết Mác xít, chủ nghĩa cộng sản, lịch sử chiến tranh cận đại và các kỹ thuật CTCT.
Theo tài liệu [2] : SVSQ/CTCT có thể nói là một sĩ quan đặc biệt so với từ trước, có khả năng căn bản toàn diện, cả văn lẫn vơ. Những môn học về kinh tế, chính trị, triết học, lịch sử và nhất là về luật pháp, bao gồm dân luật, h́nh luật, luật tài chánh, hành chánh, luật quốc gia, luật quốc tế…
Các sinh viên sĩ quan trường Chiến Tranh Chính Trị, mang "lon Alpha + 1 vạch" mầu xanh, khác với mầu đỏ của trường Vơ Bị Đà Lạt. Cả 2 trường này đào tạo sĩ quan hiện dich và khi ra trường th́ sinh viên sĩ quan mang lon Thiếu Uư . Trong khi đó , sinh viên sĩ quan trường Vơ Khoa Thủ Đức khi ra trường là sĩ quan trừ bị và mang lon Chuẩn Uư .
Ngoài ra, SVSQ c̣n có dịp đi thực tập, công tác tại các đơn vị, huấn luyện vơ thuật, văn nghệ, báo chí…Đặc biệt, chương tŕnh văn hóa cấp bậc Đại Học do các Chính Khách, Nhân Sĩ và các Giáo Sư các Đại Học toàn quốc giảng dạy. Sau khi tốt nghiệp, các cựu SVSQ có thể ghi danh theo học tiếp chương tŕnh năm thứ ba tại một số Đại Học dân sự. Theo dự tính, năm 1976, Trường sẽ nới rộng chương tŕnh huấn luyện 4 năm và sẽ thu nhận cả Nữ SVSQ.
Sau khi tốt nghiệp, các tân sĩ quan được bổ nhiệm làm đại đội phó các đơn vị chiến đău, hay trưởng ban CTCT tại các chi khu. Khoá đầu tiên tốt nghiệp vào tháng 5 năm 1969, theo sau là 5 khóa nữa cho đến ngày thất thủ năm 1975. Trường đào tạo khoảng 200 sĩ quan mỗi khoá. Ngoài ra trường c̣n cung cấp các chương tŕnh căn bản, trung cấp, cao cấp cho các sĩ quan đang làm công tác CTCT.
Theo tài liệu [11] : Kể từ khi chính thức trở thành Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt cho đến ngày mất miền Nam ,Trường đă đào tạo 6 khoá Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch với chương tŕnh huấn luyện 2 năm hoặc hơn.
Các khóa của Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt thường được gọi tên chung là Nguyễn Trăi 1, 2, 3, 4, 5, 6.
Có 912 Sinh Viên Sĩ Quan hiện dịch tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy của 4 khóa trong tổng số 1239 Sinh Viên Sĩ Quan của 6 khoá thụ huấn tại trường .
Theo
tài liệu [2] : Số Sĩ Quan ra trường từ
khoá 1 năm 1969 đến khóa 6 tan hàng ngày 30-5-1975 đă cung
ứng khoảng 1,000 CTCT, một con số tương
đối nhỏ so với quân số trên dưới một
triệu của QLVNCH. V́ thế, SQ/CTCT chưa phát huy rộng
răi được khả năng đă thụ huấn.
Hơn nữa, những năm sau cùng, cuộc chiến trở
nên khốc liệt ở quy mô lớn, chủ yếu là xử
dụng sức mạnh hoả lực của vũ khí và
quân số. Nhiều
sĩ quan tốt nghiệp Đại Học Chiến Tranh
Chính Trị chỉ huy đại đội trực tiếp
chiến đấu.
Tính đến ngày 30-4-1975, Trường ĐH/CTCT đă huấn
luyện được trên, dưới 40 Khóa CTCT các cấp:
Căn bản, Trung cấp và Cao cấp dành cho các Sĩ Quan
CTCT từ cấp Chuẩn Úy đến Đại Tá thuộc
hầu hết các đơn vị, Quân, Binh chủng QL/VNCH
.
Ngoài ra có những khóa huấn luyện đặc biệt cho những Sĩ Quan các xứ Khmer và Mă Lai Á.
Sau đây là tiểu sử sơ lược các Khoá SVSQ hiện dịch cuả Trường trích từ tài liệu [6] :
*KHOÁ 1 :
Nhập ngũ : Khai giảng ngày 14 tháng 12 năm 1966 ; Chính thức nhập Trường tháng 5 năm 1967; Sĩ số 178 ;
Ngày măn Khoá : 02 tháng 5 năm 1969 (03 tháng 5 theo tài liệu [5] ) ;168 Thiếu Úy tốt nghiệp;
Từ trần : 40 ;
Thủ Khoa : Huỳnh Bé Em ;
Đẩy lui cuộc tấn công Trường cuả việt
cộng vào khoảng tháng 5 năm 1968. Hai SVSQ Huỳnh Bé Em
và Quách Dược Thanh được tưởng thưởng
Anh Dũng Bội Tinh;
Tham gia chiến dịch Diên Hồng cuối năm 1968.
*KHOÁ 2 :
Chính thức nhập Trường ngày 03 tháng 10 năm 1968;Sĩ số 397;
Ngày măn khoá :19 tháng 0 2 năm 1971 ; Sỉ số :386 ( 387 Thiếu Úy tốt nghiệp theo tài liệu [5] ) ;
Từ trần : 97;
Thủ Khoa : Hồ Ngân;
Đẩy lui cuộc tấn công Trường đêm 31
tháng 3 năm 1970 cuả việt cộng trong biến cố
này có khoảng 40 vị Tuyên Úy Phật Giáo, Công Giáo, và Tin
Lành cùng 5 SVSQ bị sát hại. Một số SVSQ được
tưởng thưởng huy chương;
Xuất sắc về Văn Nghệ và Thể Thao. Nổi
tiếng tại Đà Lạt và Quân Khu 2.
*KHOÁ 3 :
Chính thức nhập Trường tháng 4 năm 1970; Khai giảng ngày 20 tháng 8 năm 1970; Sĩ số : 165 ;
Ngày măn khoá : Ngày 21 tháng 4 năm 1973 (22 tháng 4 theo tài liệu [5] ); Sỉ số : 159 (161 Thiếu Úy tốt nghiệp theo tài liệu [5] );
Thủ Khoa : Triệu Duy Toản;
Từ trần : 19 ;
Tham gia công tác Dân Vận chuẩn bị kư kết hiệp
định Paris 1973 tại Tiểu Khu Quảng Ngăi trong ṿng
3 tháng.
*KHOÁ 4 :
Bích chương kêu gọi thanh niên thi vào Trường ĐH/CTCT- H́nh trích từ tài liệu [12]
Các thanh niên dân sự trúng tuyển vào Trường ĐH/CTCT Đà Lạt tŕnh diện tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (ở Gia Định) ngày 23 tháng 9 năm 1972;
Chính thức
nhập Trường Mẹ ngày 18 tháng 12 năm 1972; Sĩ số
210 (209 theo tài liệu)
Ngày măn khoá : Ngày 22 tháng 4 năm 1975 sau khi di tản về
Biên Hoà Tiểu Đoàn 30 CTCT - Sài G̣̣n với 199 Thiếu
úy tốt nghiệp ;
Thủ Khoa : La Văn Thẩm;
Từ trần : 26;
Tham gia công tác Dân Vận thi hành Hiệp Định Paris 1973 tại Tiểu Khu Quảng Ngăi trong 2 tháng;
Tham gia Chiến
Dịch Cải Tiến và Kiện Toàn an ninh lănh thổ Quân
Khu 4 trong 5 tháng ;
Thành tích :
* Tập thể:
Bộ TTM trao tặng 2 giây biểu chương màu Anh
Dũng Bội Tinh và Quân Công Bội Tinh cho Quân Kỳ Trường
ĐH.CTCT do thành quả công tác tại Quân Khu 4.
* Cá nhân : Hai Anh Dũng Bội Tinh cho các SVSQ Bùi Công Thành, Nông
Văn Vượng và SVSQ Vũ Đ́nh Kiên; cùng một số
Chiến Thương Bội Tinh, bằng Tưởng Lục
và giấy khen các cấp.

Khóa 4- Tân khóa Sinh- H́nh trích từ tài liệu [12]

Khóa 4- Lễ gắn Alfa- H́nh trích từ tài liệu [12]

Khóa 3 và Khóa 4 đi công tác Quăng Ngăi 1973 - H́nh trích từ tài liệu [12]
*KHOÁ 5 :
Khai giảng ngày 20 tháng 3 năm 1973 sau khi di tản về Biên Ḥa;
Chính thức nhập trường tháng 02 năm 1974;Sĩ số 161;
C̣n đang thụ huấn tại Trường.
Tan hàng tại Tiểu Đoán 50 CTCT ngày 30/4/1975;
*KHOÁ 6 :
Khai giảng ngày 11 tháng 10
năm 1974;
Chính thức nhập trường ngày 17 tháng 01 năm 1975 ;
Sĩ số : 129L
Gắn Alpha ngày 01 tháng 3 năm 1975- C̣n đang thụ huấn
tại Trường;
Sau khi gắn Alpha tại
Trường Mẹ và di tản về Biên Hoà - Sài G̣n th́ tan
hàng ngày 30/4/1975;
Từ trần : 1 (trong tù) .
Theo tài liệu [4] :
Ngành CTCT của Quân Lực VNCH được tái tổ chức nhờ sự giúp đỡ và cố vấn của Quân Đội Trung Hoa Dân Quốc. Sau lần thất bại năm 1949, họ đă học bài học cay đắng trong việc đối phó với cộng sản, và họ rất sốt sắng truyền lại kinh nghiệm cho Việt Nam, một đồng minh thân cận nhất. Cũng nhờ có chương tŕnh Chiêu hồi, quân đội VNCH đă học thêm nhiều từ các hồi chánh viên mà nhiều người từng là cán bộ t́nh báo và chính trị cao cấp trong quân đội Cộng sản.
Có nhiều thành tựu đáng kể từ khi thành lập Tổng cục CTCT. Các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân trở nên hữu hiệu hơn trong các chiến dịch b́nh định nhằm quét sạch hạ tầng cơ sở của cộng sản. Trước khi tham dự Hoà đàm Paris năm 1968, các sinh viên sĩ quan khoá 1 được gửi đội hoạt động tại các chi khu để củng cố tinh thần binh sĩ và hậu thuẫn cho lập trường của chính phủ.
Các đơn vị bộ binh, rănh tay trong công tác lănh thổ, đă tham dự vạ các chiến dịch tấn công lớn với sự yểm trợ của Không quân Mỹ. Sư Đoàn 5 Bộ binh là một thí dụ. Từ một đơn vị yếu kém nhất, sau chiến dịch Chân trời mới khởi sự năm 1968, đă trở thành đơn vị giỏi thứ hai trong mười một sư đoàn. Đó là nhờ công sức của các sĩ quan chỉ huy và 39 tân sĩ quan khoá 1 CTCT. Các sĩ quan xuất thân từ trường Đại học CTCT được huấn luyện thuần thục và có tinh thần. Họ có khả năng cả về quân sự lẫn CTCT. Rất nhiều người sau đó đă trở thành những cấp chỉ huy chiến đấu giỏi.
Sau đây là những ngày cuối cùng của Trường Đại Học Ch́nh Trị trích từ tài liệu [3] :
T́nh h́nh đầu Xuân Ất Măo 1975
Đầu năm 1975, sau khi quân đội cộng sản Bắc Việt chiếm Phước Long, Ban Mê Thuột, t́nh h́nh quân sự của Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) xấu dần.
Các tỉnh địa đầu Quảng Trị, Thừa Thiên lần lượt rơi vào tay cộng sản. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngăi không c̣n.
Các đơn vị thuộc Quân Đoàn I, Vùng 1 Chiến Thuật ră ngũ về Cam Ranh, Hàm Tân. Quân Đoàn II, Vùng 2 Chiến Thuật chuyển quân qua Phú Bổn về Qui Nhơn, Tuy Ḥa theo Liên tỉnh lộ 7B, Bộ Tư Lệnh tái phối trí tại Nha Trang.Quảng Đức, Lâm Đồng bỏ trống, Tuyên Đức, Đà Lạt trong thế cô đơn, không được chỉ thị nào của Bộ Tổng Tham Mưu hay Quân Đoàn II, cũng phải theo số phận các tỉnh lân cận.
Thiếu tướng Lâm Quang Thơ, chỉ huy trưởng trường Vơ Bị Quốc Gia (VBQG), triệu tập phiên họp ba người gồm Thiếu Tướng Thơ, Đại Tá Nguyễn Hợp Đoàn, Tỉnh Trưởng Tuyên Đức kiêm Thị rưởng Đà Lạt, và tôi ( Đại Tá Nguyễn Quốc Quỳnh), Chỉ Huy Trưởng Trường Đại Học CTCT, kiểm điểm t́nh h́nh, thảo luận việc pḥng thủ Đà Lạt, di chuyển về V3CT khi cần.
Quyết định rời Đà Lạt, tái phối trí tại B́nh Tuy (Hàm Tân)
Hai ngày sau, phiên họp thứ hai tại Trường VBQG tái nhóm. Kiểm điểm t́nh h́nh: Không liên lạc được với các thẩm quyền Bộ Tổng Tham Mưu (TTM), Tổng Tham Mưu Trưởng, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và QĐ II, Vùng 2 Chiến Thuật , Tư Lệnh Vùng, Tham Mưu Trưởng, mất liên lạc với Quảng Đức, Lâm Đồng đă di tản.
Quyết định: Đà Lạt, Tuyên Đức, và các đơn vị quân trường trú đóng, trường VBQG, trường ĐH/CTCT di chuyển về Vùng 3 Chiến Thuật V3CT. Trường VBQG chuyển Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ), lực lượng cơ hữu tới các vị trí cao độ chung quanh quận Đơn Dương trong ngày 31 tháng 3 bảo vệ các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Chính Quyền Đà Lạt, Tuyên Đức; Trường ĐH/CTCT và các thành phần trường VBQG c̣n lại chuyển quân. Giờ G: chạng vạng tối 31. Mật lệnh: việt cộng tấn công thị xă Đà Lạt.
Không tin vào ngày giờ tốt xấu hoặc cái khâu, cái mốc trong chu kỳ hàng năm sinh hoạt của trường ĐH/CTCT nhưng sinh viên sĩ quan (SVSQ), sĩ quan tu nghiệp các khóa căn bản, trung cao cấp CTCT và quân nhân cơ hữu, nhân viên dân chính quốc pḥng đều phập phồng lo âu trước ngày 1 tháng 4 mỗi năm, v́ 1 tháng 4 năm 1970 trường bị cộng sản tấn công, tổn thất nhân mạng: 4 quân nhân cơ hữu, 4 SVSQ, 17 sĩ quan khóa sinh tuyên úy. Ngày 1 tháng 4 những năm kế tiếp thường có những việc không may xảy đến: xe lật, SVSQ bị thương tích khi thực tập quân sự hoặc thể dục thể thao.
Rời bỏ quân trường thân yêu, đồi 4648 vị trí tiên khởi, đồi 4650 vị trí kế tiếp (nguyên cơ sở trú đóng của trường Chỉ Huy Tham Mưu trước khi rời về Long B́nh) cũng đêm 31 tháng 3 rạng 1 tháng 4, 1975.
Từ 15 tháng 3, 1975, gia đ́nh quân nhân cơ hữu từ sĩ quan đến hạ sĩ quan, binh sĩ, nhân viên quốc pḥng đă được khuyến cáo di tản về Sài G̣n và các tỉnh phía Nam bằng phương tiện tự túc: hàng không, đường bộ cùng với đồng bào Đà Lạt, lúc đó đă hoang mang tột độ. 21 giờ tối 29 tháng 3, phóng viên đài Quân Đội điện thoại cho tôi xin phỏng vấn. Tôi hỏi:
– Anh lên đây, hay ngay bây giờ qua điện thoại?
– Ngay bây giờ.
– Tôi không có thẩm quyền v́ chỉ là chỉ huy một quân trường trú đóng tại Đà Lạt.
– Không sao! V́ chúng tôi chỉ xin biết trường ĐH/CTCT c̣n ở Đà Lạt không hay đă di tản?
– Tôi vẫn ở đây, đang nói chuyện với anh và tham gia với trường Vơ Bị Quốc Gia, các lực lượng Tuyên Đức bảo vệ Đà Lạt.
– Xin cám ơn.
Sáng hôm sau, 30 tháng 3 tham dự phiên tái nhóm với Thiếu tướng Thơ, Đại Ttá Đoàn. Quyết định của vị chủ tọa: di chuyển tái phối trí tại Vùng 3 Chiến Thuật . Tôi băn khoăn về câu trả lời phóng viên Đài Tiếng Nói Quân Đội. Sự thực, tôi vẫn c̣n ở Đà Lạt v́ ḷng c̣n muốn bảo vệ thành phồ duyên dáng này, nhưng chưa tới 24 tiếng đồng hồ, t́nh thế đă khác hẳn.
Trưa ngày 31, tôi đang dùng cơm, mấy bà con thân hữu tại Đà Lạt đến thăm, ḍ hỏi hai quân trường: “Vơ Bị, CTCT có rời Đà Lạt không?” – “Tôi c̣n ở đây, các ông có thấy ǵ khác lạ trong nhà tôi không?” Trấn an các thân hữu hoang mang, bối rối, nhưng chính ḿnh cũng không khỏi suy nghĩ mông lung. “Chuyển quân, rút quân” phải bí mật, bất ngờ, kín đáo. Không thể tiết lộ với thân hữu được v́ trách nhiệm chỉ huy, v́ bảo vệ an ninh cho quân trường với bao nhiêu sinh mạng trong tay, hớ hênh để cộng sản nằm vùng biết rơ chi tiết di tản th́ vô cùng nguy hiểm. Lui binh, rút quân trên b́nh diện chiến lược quy mô lớn, chuyển quân, tái phối trí trên phạm vi chiến thuật nhỏ cũng đều tôn trọng các yếu tố: Kín Đáo, Bí Mật, Bất Ngờ. V́ vậy các chiến hữu gần gũi tôi nhất trong giờ phút chót chuyẻn quân, rời Đà Lạt, tái phối trí cũng không biết quân trường có di tản hay không, và nếu có th́ lúc nào?
Vào buổi sáng 31/3/1975, tôi ra lệnh vắn tắt: Sẵn sàng đối phó với mọi t́nh huống, cấp phát cho SVSQ theo Tiêu Lệnh Hành Quân 3 ngày lương khô, 2 đơn vị đạn dược, sau cơm chiều, vũ khí cá nhân, cộng đồng trên người, quân phục tác chiến, bi đông nước, đem theo đĩa ăn, muỗng nĩa (SVSQ được trang bị một bộ đĩa, muỗng nĩa, loại tốt, thường ngày dùng ở phạn xá, nay mang theo).
– Sĩ quan khoá sinh các khóa các khóa căn bản, trung, cao cấp CTCT cũng được cấp phát lương khô.
– Khối Hành Chánh Tiếp Vận: Chuẩn bị cho phạn xá 1 GMC đem đủ dụng cụ nhà bếp hành quân di chuyển. Đem theo gạo tùy quân số khi dùng
– Quân xa các loại đầy đủ nhiên liệu.
– 2 xe bồn: xăng, dầu cặn.
– Xe buưt sinh viên
– 2 đơn vị đạn dược trừ bị.
– Bệnh xá: dụng cụ cứu thương, thuốc men.
Giă từ Đà Lạt
Giờ G: 19 giờ ngày 31 tháng 3, 1975: Điện thoại của Tỉnh Trưởng Thị Trưởng Tuyên Đức-Đà Lạt cho Chỉ Huy Trưởng Trường ĐH/CTCT: vc tấn công thị xă (mật khẩu).
Tôi bèn ra lệnh tập trung:
– Sĩ quan khóa sinh Căn bản, trung, cao cấp CTCT tại trại Lam Sơn đồi 4648, dưới quyền chỉ huy của Trung tá Đồng Văn Chân, Quân Huấn Vụ trưởng. SVSQ/ĐH/CTCT: Trại Chi Lăng đồi 4650 dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Trường. Di chuyển khi có lệnh.
Theo ước hiệu giữa Thiếu Tướng Thơ và tôi, khi nào Thiếu Tướng đi xe jeep ngang qua trường ĐH/CTCT theo lối tắt từ BCH cũ trường VBQG xuyên qua ĐH/CTCT, gặp tôi báo cáo “xong” Thiếu Tướng mới cho lệnh nổ ḿn phá kho xăng và pḥng thí nghiệm nặng (heavy lab) của trường Vơ Bị và đó là lệnh di chuyển. Chiều ấy tại trại Chi Lăng tôi đang điều động Bộ Tham Mưu trường, Liên Đoàn SVSQ, liên lạc vô tuyến với Trung tá Đồng Văn Chân chỉ huy các bộ phận bên trại Lam Sơn gồm có các sĩ quan khóa sinh các khóa căn bản, trung, cao cấp CTCT, khối Hành Chánh Tiếp Vận th́ Thiếu Tướng Thơ, trên xe jeep ngang qua hỏi tôi: “Xong chưa?” Tôi xin 15 phút nữa, nhưng xe của Thiếu Tướng vừa tới cổng mới đang xây của trường ĐH/CTCT và Bệnh xá Tiểu Khu th́ hai tiếng nổ long trời, lửa bùng lên cao, kho xăng, kho đạn, heavy lab của trường Vơ Bị đă cháy. Lệnh di chuyển rời Đà Lạt đă ban hành hơi sớm.
Đoàn quân xa trường ĐH/CTCT từ từ chuyển bánh, ra khỏi cổng trường Chi Lăng, ngay Bệnh xá Tiểu khu Tuyên Đức rẽ trái, hướng về phía Đơn Dương, đèo Ngoạn Mục. Màn đêm buông xuống. Xe nối đuôi nhau khoảng cách không quá một trăm thước, tốc độ vừa phải theo kỹ thuật di chuyển “công voa” (convoi), không dùng đèn pha chiếu sáng, mở đèn “mắt mèo” (black out) v́ đường đèo nhiều khúc quanh, khúc khuỷu. Đà Lạt lùi dần về phía sau, ch́m trong sương.
Đến Trại Mát (10 cây số cách Trung tâm Đà Lạt), đoàn xe dừng lại, 5 xe GMC quay về hướng Đà Lạt chuyển các thành phần cơ hữu và SVSQ phải di chuyển đợt 2. SVSQ, sĩ quan khóa sinh, Bộ Chỉ huy Trường đi bộ, nhường xe, kể cả xe buưt của SVSQ, cho gia đ́nh binh sĩ, chuyển nhanh đến Cầu Đất phía trước, rồi quay lại đón đoàn người đi bộ, đưa nhanh họ vào đèo Ngoạn Mục, quay lại đón đoàn người đến lúc trước ở Cầu Đất, chuyển họ nhanh lên đỉnh đèo, cứ như thế, trường ĐH/CTCT di chuyển sinh viên các khóa 4, 5, 6 (600 người), sĩ quan khóa sinh các khóa căn bản, trung, cao cấp CTCT (300 người), quân nhân cơ hữu (200 người), không có phương tiện di tản về Sài G̣n và các tỉnh phía Nam trước 31 tháng 3.
Hai trăm quân nhân và gia đ́nh thuộc trường VBQG, Tiểu khu Tuyên Đức-Đà Lạt tự động nhập vào đoàn di tản (trường ĐH/CTCT). Tổng cộng 1200 người, con số phỏng định khi rời Đà Lạt và đến quận Sông Pha, chân đèo Ngoạn Mục, nhà máy thủy điện Đa Nhim. Từ Sông Pha xuống Phan Thiết, ngược lại Phan Rí Cửa, số quân nhân trường VBQG, Tiểu khu Tuyên Đức-Đà Lạt và gia đ́nh không theo đoàn quân di chuyển trường ĐH/CTCT nữa.
Hành quân di chuyển theo cách đi “con vẹt” (marche perroquet – parrot march). V́ thế chậm, mất nhiều th́ giờ. 9 giờ sáng ngày 1 tháng 4, 1975, trường ĐH/CTCT mới chuyển quân xong, tới địa điểm tập hợp đấu tiên của trường VBQG, ĐH/CTCT, và Tiểu khu Tuyên Đức-Đà Lạt.

Liên Đoàn SVSQ Khóa 4,5,6 tập hợp bỏ Trường- H́nh trích từ tài liệu [12]
(Chú thích : H́nh trên viết Liên Đoàn SVSQ chuẩn bị bỏ Trường vào 5 giờ chiều ngày 1 tháng 4, 1975 nhưng theo đoạn văn trên Trường ĐH/CTCT di chuyển vào 9 giờ sáng ngày 1 tháng 4, 1975) .
Chuyển quân giai đoạn 2
Thiếu Tướng Thơ, Đại tá Đoàn, Trung tá Nhất, quận trưởng quận Sông Pha, và tôi họp kiểm điểm t́nh h́nh: tổng quát, t́nh h́nh xấu. Đà Nẵng thất thủ 31 tháng 3. VC có tăng 54, cơ giới hóa, đang tiến xuống Nam. Nha Trang bị áp lực, có thể từ Pleiku, Kontum xuống bao vây các tỉnh duyên hải bằng nhiều sư đoàn. Các đơn vị từ Đà Lạt xuống tiếp tục chuyển quân tái phối trí giai đoạn 2 về B́nh Tuy (Hàm Tân). Đợi lệnh Bộ TTM. Đơn vị nào có đủ phương tiện, chuyển quân trước.
Trong trường hợp này, trường VBQG có đủ xe GMC chuyển SVSQ về B́nh Tuy sớm. Tiểu khu Tuyên Đức-Đà Lạt không c̣n nhiều đơn vị, ít người, cũng chuyển quân nhanh. Chỉ có trường ĐH/CTCT không có đủ xe GMC chuyển quân, lại c̣n nhân viên cơ hữu, dân chính quốc pḥng, và gia đ́nh binh sĩ đi theo. Đến 10 giờ sáng ngày 1 tháng 4 mới tập trung được đủ người, chậm trễ v́ phải đi bộ hành quân với đội h́nh “con vẹt”. Tôi lo ngại nhưng vẫn tin tưởng vào tinh thần kỷ luật của toàn thể quân trường.
Tập trung xong cho mọi người nghỉ chân, ăn cơm trưa, tôi vào nhà thờ Quảng Thuận, thuộc Trung tâm định cư của đồng bào Quảng Trị sau mùa hè đỏ lửa 1972, t́m gặp cha Đỗ Bá Ái, cựu tuyên úy QLVNCH, để được biết thêm t́nh h́nh, an ninh trên lộ tŕnh sắp di chuyển. Cha đi vắng, tôi trở lại với đoàn quân, ra khỏi nhà thờ, t́nh cờ gặp cha Maïs, giáo sư Pháp ngữ Viện Đại Học Đà Lạt, người tôi đă nhờ nhuận sắc bản dịch sang Pháp ngữ cuốn Tổng Công Kích Mậu Thân 1968 do Pḥng 5 Bộ TTM phát hành khi tôi c̣n là Trưởng Pḥng trước khi nhận nhiệm vụ Chỉ Huy ĐH/CTCT. Vốn có cảm t́nh từ trước, Cha hỏi tôi đi đâu bây giờ?
– Chúng tôi di chuyển tái phối trí, tôi trả lời bằng Pháp ngữ (nous devons nous re-déployer).
Cha hỏi tiếp:
– Nhưng ở đâu? (mais où alors?).
– Chúng tôi đang ở trên lănh thổ Phan Rang (nous sommes sur le territoire de Phan Rang).
Tôi hỏi lại Cha:
– Thế c̣n Cha ? Cha đi đâu?
– Tôi vừa ở Nha Trang về sau khi thu xếp cho các Nữ tu Ḍng Kín về Sài G̣n rồi về Pháp, tôi sẽ trở lên Đà Lạt.
Từ giă Cha Maïs, tôi nghĩ đến giải pháp: mượn xe? trưng dụng? thuê xe đ̣? Đến chỗ dừng chân, tạm nghỉ, tôi nêu ư kiến hỏi các sĩ quan tham mưu. “Suốt từ sáng đến giờ, không thấy bóng dáng một chiếc xe nào ngoại trừ xe của ḿnh,tất cả đồng thanh trả lời – Phải trưng dụng thôi.”
Tôi trầm ngâm. Là một ĐH/CTCT, sao có thể trưng dụng… Nhưng một lát sau, một xe chở cây gỗ (loại xe rừng) được anh em chặn lại, tỏ ư kiến trưng dụng. Ông chủ xe đến trước mặt tôi sụp lạy như tế sao, mếu máo: “Xin Đại tá làm phước cho vợ con tôi ở Đà Lạt đang trông chờ tôi về.” “Chính tôi phải lạy ông, ông đừng làm thế…” Tôi đỡ ông dậy, ôn tồn: “Ông giúp chúng tôi chuyển quân đến B́nh Tuy, một chuyến thôi, xong ông về. Tôi đang chỉ huy, không thể lạy ông được, xin ông thông cảm.” Ông miễn cưỡng xuôi ḷng.
Trung Tá Đồng Văn Chân đi xe jeep được chỉ định chỉ huy một toán tiền thám gồm đa số khóa sinh trung, cao cấp CTCT, leo lên xe cây. Xe chuyển bánh, hướng về Phan Thiết, Hàm Tân. Tôi có chủ đích dùng các sĩ quan khóa sinh có khả năng chiến đấu, phản ứng tốt hơn nếu bị việt cộng phục kích chặn đường. Nhưng ḷng thấy ngậm ngùi, bất đắc dĩ phải trưng dụng. Nếu ông chủ xe không may mắn ngày ấy có cơ hội đọc được những ḍng này, xin nhận lời tạ ơn muộn màng của tôi.
Trung Tá Đồng Văn Chân và đội tiền thám với xe cây đi rồi, tôi sực nhớ chưa hỏi Cha Maïs t́nh h́nh Nha Trang và đường về đến đây qua Phan Rang có việt cộng không th́ vài đồng bào gốc Quảng Trị quen biết tôi đem xôi, thịt gà luộc tiếp tế cho tôi, có gia đ́nh xin đi theo đoàn quân. Cha Đỗ Bá Ái xuất hiện. Có lẽ buổi sáng người giúp việc cho Cha không biết tôi là ai nên trả lời Cha đi vắng, nay đồng bào Quảng Trị biết tôi, tiếp tế cho tôi, nên Cha đến gặp v́ là chỗ thân t́nh cũ. Câu hỏi đầu tiên của Cha không khác của Cha Maïs : “Đến đây rồi đi đâu nữa?” “Về Hàm Tân, V3CT. Rồi ra ngoại quốc nếu cần.” Tôi thành thực trả lời, không giấu giếm Cha, đầu óc đang mông lung, thoảng nhớ câu dặn ḍ của Sĩ Quan Cố Vấn trưởng Trung Hoa Dân Quốc tại ĐH/CTCT nói với tôi tháng 1,1975 khi tôi chuẩn bị đi Đài Bắc trong nhiệm vụ đại diện Bộ Quốc Pḥng và Bộ TTM/QLVNCH kư thỏa hiệp giữa hai Đại Học CTCT Đài Bắc và Đà Lạt là Tỷ Muội Học Đường (Sister Academies): “Có biến cố lớn, việc kư thỏa hiệp sẽ hoăn. Nếu yên ổn tháng 5/75 sẽ kư. Nếu có biến cố, chúng tôi có tàu biển sang đón các cán bộ CTCT cần đi.”
Sau câu chuyện giữa Cha Ái và tôi qua vài câu hỏi ngắn ngủi trên, tôi chia tay với Cha để chuẩn bị tiếp tục hành tŕnh. Sau này tôi biết Cha cũng mượn được tàu Hải Quân Việt Nam đưa một số đồng bào Quảng Trị đến Phú Quốc nhưng không có tàu ra hải phận quốc tế, phải trở về. Cha đi tù cải tạo, nay quản nhiệm một giáo xứ VN ở Pennsylvania.
Tàu biển Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) tham gia chuyên chở các toán quân và đồng bào di tản từ Đà Nẵng về Cam Ranh, Vũng Tàu cùng với Đệ Thất Hạm Đội của Mỹ, tàu của Úc, Đại Hàn… trong những ngày đen tối cuối tháng 3 đầu tháng 4, 1975 theo Olivier Todd trong cuốn Cruel Avril (bản tiếng Pháp), Cruel April (bản tiếng Anh) hay Tháng Tư Đen (bản tiếng Việt, Phạm Kim Vinh chuyển ngữ).
Thị trấn Tháp Chàm
Các đơn vị của trường VBQG, Tiểu Khu Tuyên Đức-Đà Lạt chuyển quân gần xong về hướng Hàm Tân, trường ĐH/CTCT mới ăn xong bữa trưa. Có tin hỗn loạn xảy ra tại Phan Rang v́ các đơn vị ră ngũ.
Số xe GMC của trường ĐH/CTCT (khoảng 14, 15 chiếc) không đủ chuyển một chuyến hết số người c̣n lại –gần 1000 sau khi gia đ́nh binh sĩ trường VBQG, Tiểu khu Tuyên Đức-Đà Lạt không đi theo đoàn quân ĐH/CTCT nữa. Phải chấp nhận mỗi GMC chỉ chở toán vũ trang nhẹ gồm 10 SVSQ và 20 đến 25 người không chiến đấu (gia đ́nh binh sĩ) chạy chậm ngang qua thị trấn Tháp Chàm 5 cây số, tập trung gia đ́nh binh sĩ tại đó, trở lại chuyển dần những người c̣n đi bộ.
Đến thị trấn Tháp Chàm, đoàn quân đang di chuyển trật tự, bỗng một người mặc thường phục chạy theo xe jeep của tôi (chạy chậm dưới 10/giờ) hớt hăi nói: “Thưa Đại tá, tôi là sĩ quan Tiểu khu Tuyên Đức, gia đ́nh tôi đang bị cướp phá, xin Đại tá cho người đến cứu chúng tôi”. – “Chúng tôi đang chuyển quân, không thể giúp ông được”.
Buồn, đáng thương. Sau này có người nói với tôi khi Trường ĐH/CTCT di chuyển qua Tháp Chàm, cả một đoàn quân đi ngang qua mà không giúp được dân bị đám người vô kỷ luật cướp phá. Một lời chê trách tôi không trực tiếp trả lời được. Hy vọng những ḍng này sẽ được ông bà nào trong hoàn cảnh đó đọc và thông cảm chúng tôi có trách nhiệm về sinh mạng của gần ngàn người, có dân trong đó, nên không làm được một công tác “chiến tranh chính trị đúng là phải làm”.
Viết đến đây th́ Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh bị bệnh, không thể tiếp tục. Và ông mất ngày 13/6/2014 tại Orlando, tiểu bang Florida-Hoa Kỳ, hưởng đại thọ 92 tuổi.
Xin quư vị, quư bạn đọc thêm hai đoạn trích về cuộc di tản dưới góc cạnh khác, tường thuật bởi Trần Thanh Sơn, SVSQ khóa 4, hiện ở Irvine (cf. Ức Trai, số đặc biệt 30/4, 2002), và bởi Kim Thanh, Đại úy Trưởng khoa Nhân Văn Xă Hội, Văn Hóa Vụ…
Trần Thanh Sơn, SVSQ/CTCT khóa 4 -Tháng Tư, bỏ lại
… Khi đến Phan Rang, thành phố này đă thực sự mất kiểm soát, náo loạn khắp nơi. Đoàn xe chúng tôi đă thật khó khăn khi chen chúc vượt qua thị trấn này. Nhiều thường dân, binh sĩ xin theo đoàn không được, có người làm hoảng. Chính tại nơi đây, lần đầu tiên và có lẽ duy nhất trong đời cận vệ, Trung Úy Thạch Minh Lợi đă có dịp thi thố khả năng của ḿnh, khi Đại tá CHT suưt bị làm hỗn. Có một điều ai nấy cũng đều ngưỡng mộ người chỉ huy trưởng khả kính này, trong mọi thời điểm suốt những chặng đường dù nguy hiểm đến đâu, ông cũng theo sát cả đoàn để ban hành những khẩu lệnh kịp thời, kể cả những khi cùng lội bộ, bất chấp an ninh của cá nhân ông. […].
Sau đó th́ có lệnh Tiểu khu trưởng Phan Thiết cho bắn pháo, ngăn chận không để mọi thành phần di tản vào thành phố, do đó đoàn di tản phải quay ngược trở về Phan Rí, toán trinh sát không bắt tay được với Trường Mẹ […].
Trở lại với đoàn di tản, đă bước sang ngày thứ năm, chúng tôi ai nấy đều thấm mệt, có đêm hoàn toàn không chợp mắt hay kê lưng v́ cứ phải chạy, có đêm may mắn nằm ở trựng học nhắm mắt được chỉ đôi ba tiếng, tuy nhiên tinh thần th́ rất vững, chấp hành kỷ luật quân trường tối đa, một phần v́ tất cả các cấp chỉ huy đều vẫn c̣n giữ kỷ cương, phẩm cách và sự gương mẫu của cán bộ quân trường, nên quyết cùng sống chết với nhau.
Ở Lương Sơn, Bộ Chỉ Huy Trường sau khi nhận định t́nh h́nh, để tránh thiệt hại nếu cứ tiếp tục dùng đường bộ, v́ lúc này đường Phan Thiết đă mất an ninh và đă bị cấm cửa, Đại tá chỉ huy trưởng đă có một quyết định, mà cho đến giờ này sau gần 30 năm, khi già rồi, chúng tôi mới thấy rơ đó là một quyết định rất sáng suốt và nhậy bén của một cấp chỉ huy, biết tiết kiệm xương máu cho tất cả thuộc cấp. Ông đă ra lệnh, vẫn với cung cách cố hữu của con nhà nghèo: tất cả mọi người dốc hết tiền đang có để thuê ghe chở toàn bộ Trường Mẹ từ Phan Rí Cửa về Vũng Tàu. Tiền đóng góp đă nhanh nhẹn được thu vào những chiếc nón sắt, nhất là với sự tự giác cao độ của người SVSQ trong những lúc hiểm nghèo, cộng thêm số ngân quỹ do Khối Tài Chánh mang theo. Sau này Tổng Cục CTCT đă hoàn trả lại số tiền kể trên cho mọi người. Tất cả di chuyển về Phan Rí Cửa, nơi đây đă được hẹn trước cùng đoàn ghe đánh cá. Cuối cùng, lúc 2 giờ 30 phút trưa ngày 6 tháng 4, toàn bộ trường ĐH/CTCT đă sẵn sàng trên những chiếc ghe đánh cá đă được thỏa thuận thuê mướn ṣng phẳng, lộng gió hướng thẳng về Vũng Tàu –vùng đất Tự Do c̣n lại.

Lên tàu tại Phan Rí Cửa – H́nh trích từ tài liệu [12]

Đến Vũng Tàu b́nh yên – H́nh trích từ tài liệu [12]
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
2. https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/s%C6%B0u-t%E1%BA%A7m-bi%C3%AAn-kh%E1%BA%A3o/8124-ng%C3%A0nh-chi%E1%BA%BFn-tranh-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-vnch-v%C3%A0-ch%C6%B0%C6%A1ng-tr%C3%ACnh-d%E1%BA%A1-lan Trúc Giang-Nghành Chiên Tranh Chính Trị VNCH và Chương Tŕnh Dạ Lan-01/31-2015.
3. https://vanhoavutvbqgvn.wordpress.com/2017/04/07/dai-hoc-chien-tranh-chinh-tri-di-tan-dai-ta-nguyen-quoc-quynh/ Đại Học Chiến Tranh Ch́nh Trị ‘’ Di Tản’’ - Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, Chỉ Huy Trưởng Trường Đại Học CTCT Đà Lạt - Apr7 & Trần Thanh Sơn, SVSQ/CTCT khóa 4 -Tháng Tư, bỏ lại.
4. https://linhvnch.wordpress.com/truong-dhctct/ Trường ĐHCTCT.
5. https://www.facebook.com/oldsaigon75/posts/tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-chi%E1%BA%BFn-tranh-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-vi%E1%BB%87t-nam-c%E1%BB%99ng-h%C3%B2a-t%E1%BA%A1i-%C4%91%C3%A0-l%E1%BA%A1t-q%C3%BAy-v%E1%BB%8B-l%C6%B0u-%C3%BD-%C4%91/2391156514266604/ Sài G̣n Xưa Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Ḥa tại Đà Lạt -2 septembre 2019 .
6. https://linhvnch.wordpress.com/truong-dhctct/ Trường ĐHCTCT (Trích Đặc San Ức Trai do Nhiệm Kỳ 1 ấn hành năm 1985 và đă được cập nhật bởi Nhiệm Kỳ 15) .
7. https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_c%E1%BB%A5c_Chi%E1%BA%BFn_tranh_Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B,_B%E1%BB%99_T%E1%BB%95ng_Tham_m%C6%B0u_Qu%C3%A2n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa -Trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị .
8. https://www.nhayduwdc.org/bv/tg/2024/ndwdc_bv_tg2024_tsctctQLVNCH_2024OCT12_sat.htm Tiểu Sử Nghành Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH .
9. https://bienxua.wordpress.com/2017/03/27/so-luoc-ve-lich-su-truong-dai-hoc-ctct-cua-qlvnch/ Sơ Lược về Lịch Sử Trường Đại Học CTCT của QLVNCH - Lư Phước Hồng Cựu SVSQ/ĐHCTCT– Ngày 17-6-2011-Posted by bienxua on March 27, 2017 .
10. https://vietbao.com/a253664/ky-niem-50-nam-dai-hoc-chien-tranh-chinh-tri-da-lat Kỷ Niêm 50 Năm Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt -02/06/2016.
11. http://saigontimesusa.com/bai/sinhhoat/1499%20dai%20hoc.shtml Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt Kỷ Niệm 45 năm Nguyễn Trăi 2 Măn Khóa.
12. https://www.flickr.com/photos/76577852@N06/albums/72157667725317664/
K4 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt par ngoannhan .
40- Trường Quân Cảnh – Vũng Tàu
Bài này gồm có hai phần :
Phần 1 : Trường Quân Cảnh
Phần 2 : Binh Chủng Quân Cảnh
Phần 1 : Trường Quân Cảnh
Theo tài liệu [1] : Trường Quân Cảnh thành lập năm 1966 tại tỉnh Gia Định ,thuộc Tổng Cục Quân Huấn, có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo Cảnh Sát (Quân Cảnh) cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Huy hiệu Trường Quân Cảnh – H́nh trích từ tài liệu [1]
Khẩu hiệu của Trường Quân Cảnh : Kỷ Luật - Nghiêm Minh
Địa điểm của Trường Quân Cảnh ghi trong tài liệu [1] cần phải xác định lại. Thật vậy,theo tài liệu [2] : Ngành Quân Cảnh có một trường huấn luyện tại Vũng Tàu.
Hơn nửa, bức h́nh dưới đây trích từ tài liệu [3] cho biết Trường Quân Cảnh tọa lạc tại Vũng Tàu.

Vũng Tàu 1968 - Trường Quân Cảnh QL/CNCH - ARVN Military Police Base in Vung Tau - Photo by Alfred Thomas Delaney - H́nh trích từ tài liệu [3]

Một bức h́nh khác Cổng Trường Quân Cảnh trích từ tài liệu [4]
Để cho tài liệu được đầy đủ, mạch lạc xin ghi thêm các chi tiết về Binh Chủng Quân Cảnh .
Phần 2 : Binh Chủng Quân Cảnh
Sau đây là sơ lược lịch sử thành lập Binh Chủng Quân Cảnh – Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (BCQC-QLVNCH) theo tài liệu [2] & [4] & [5] & [6] .
Phù hiệu & Phù hiệu – H́nh trích từ tài liệu [2] & [5]
Theo tài liệu [2] : Binh Chủng Quân Cảnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (BCQC-QLVNCH) được thành lập để thừa hành và thực thi quân luật của quân đội, và duy tŕ quân phong quân kỷ Quân Đội VNCH.
Ngoài ra, cùng với lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia, Quân Cảnh c̣n có nhiệm vụ bảo vệ trật tự an ninh ở hậu phương. Cạnh đó, lực lượng Quân Cảnh c̣n phải phụ trách việc giam giữ tù binh cộng sản tại 5 trại giam trên toàn quốc.
Năm 1955, ngành Quân Cảnh của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam ra đời như là biến thân của ngành Hiến Binh (Cảnh Sát Quân Sự) được h́nh thành từ thời Quân Đội Liên Hiệp Pháp cho đến thời Quân Đội Quốc Gia
Binh Chủng Quân Cảnh chính thức thành lập vào năm 1959 dưới nền Đệ Nhất Cộng Ḥa của chính quyền Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Đến năm 1961, Quân Cảnh trở thành một cơ cấu riêng biệt trong Quân Đội VNCH.
Để phát triển theo nhu cầu đ̣i hỏi, vào năm 1966 ngành Quân Cảnh được cải tổ toàn diện. Mỗi sư đoàn bộ binh hay tổng trừ bị đều có một đại đội Quân Cảnh cơ hữu trực thuộc. Trên đà phát triển này, một số đơn vị Quân Cảnh Tư Pháp được thành lập để giúp cho ngành Tư Pháp điều tra các tội phạm trong lănh vực dân sự lẫn quân sự.
Để đào tạo nhân sự, ngành Quân Cảnh có một trường huấn luyện tại Vũng Tàu nhằm cung cấp kiến thức chuyên môn cơ bản.
(Phụ chú : Năm thành lập Trường Huấn Luyện Vũng Tàu không có ghi rơ 1966 ?)
Theo hệ thống tổ chức, Bộ Chỉ huy Quân Cảnh trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu- Quân Lực VNCH..
Mỗi Quân Đoàn/Quân Khu có một tiểu đoàn Quân Cảnh mang cùng số thứ tự trực thuộc, riêng Biệt Khu Thủ Đô có Tiểu Đoàn 6 Quân Cảnh. Tiểu Đoàn 5 Quân Cảnh là đơn vị tổng trừ bị tiếp ứng cho toàn quốc. Các quân binh chủng lớn, như Hải Quân, Không Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) và các Quân Trường, Trung Tâm Huấn Luyện… đều có đơn vị Quân cảnh riêng.
Các cấp Chỉ Huy Quân Cảnh QLVNCH gồm có :
ĐĐ 24 QC/Tư Pháp
1963 : Thiếu tá Nguyễn Ngọc Thiệt;
ĐĐ 34 QC/TP 1965 : Đại tá Nguyễn Hiếu
Trung;
TĐ1QC 1972 : Thiếu tướng Nguyễn Chấn Á;
TĐ2QC 1973 : Đại tá Nguyễn Hữu Phước;
TĐ3QC 1975 : Đại tá Nguyễn Văn Kinh.
TĐ4QC
TĐ5QC
TĐ6QC
Dưới đây là các đơn vị Quân Cảnh trải dài khắp miền Nam – Việt Nam theo tài liệu [2]
Cơ cấu Tổ chức Binh Chủng Quân Cảnh
Binh Chủng Quân Cảnh (BCQC) – QLVNCH được thành lập theo Huấn Thị Điều Hành và Tổ Chức của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (BTTM-QLVNCH).
Dưới đây là danh sách các đơn vị Quân Cảnh trải dài khắp lảnh thổ miền Nam- Việt Nam :
A. Cơ cấu tổ chức căn bản: BCQC gồm những đơn vị bắt đầu từ cấp số Tiểu Đoàn QC (TĐQC), Đại Đội QC (ĐĐQC), Tiểu Đội QC và sau rốt là Phân Đội Quân Cảnh (PĐQC).
B. Cơ sở pḥng ốc: cơ sở hạ tầng căn bản của BCQC-QLVNCH thường được gọi là “Đồn” hay “Trạm” kiểm soát QC. Những cơ sở này thường được đặt ngay trước cổng chính ra-vào của các Đơn vị QLVNCH từ cấp quân khu xuống đến các SĐBB, Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự (TTHLQS), các Quân Trường-QLVNCH, tỉnh hay quận lỵ nơi có sự hiện diện của quân đội VNCH…
C. Quân Cảnh cho các cấp Quân Đoàn và Lục quân-QLVNCH
Theo tài liệu [6] : Trước 1975, lănh thổ VNCH được chia thành bốn vùng chiến thuật. Mỗi vùng đều có một tiểu đoàn Quân Cảnh và có một chỉ huy trưởng Quân Cảnh Quân Khu.
I. Quân Đoàn/Quân Khu hay c̣n gọi Vùng Chiến Thuật: Trải rộng phạm vi hoạt động đến các đơn vị QC Vùng Chiến thuật qua các Đồn QC Địa phương với cấp số Tiểu đoàn được phân phối như sau:
1. Quân Khu I: Tiểu Đoàn 1 QC (TĐ1QC) với 4 Đại đội QC: ĐĐA1, ĐĐB1, ĐĐC1 và ĐĐD1QC đóng tại các Đồn QC Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Tam Kỳ và Quảng Ngăi. Chỉ Huy Trưởng (CHT) Quân Cảnh Quân Khu I kiêm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1QC.
2. Quân Khu II: Tiểu Đoàn 2 QC (TĐ2QC) với 4 Đại đội QC: ĐĐA2, ĐĐB2, ĐĐC2 và ĐĐD2QC đóng tại các Đồn QC Pleiku, Quy Nhơn, Tuy Ḥa, Nha Trang, Đà Lạt, Phan Thiết, Kon Tum và Lâm Đồng…. CHT/QC/QKII kiêm TĐT/TĐ2QC.
Theo tài liệu [6] : Tại Quân Khu II c̣n có Tiểu Đoàn Trừ Bị 11
3. Quân Khu III: Tiểu Đoàn 3 QC (TĐ3QC) với 4 Đại đội QC: ĐĐA3, ĐĐB3, ĐĐC3, ĐĐD3QC và một Trung Đội Thám Thính Xa V-100 đóng tại các Đồn QC Long An, Đức Ḥa, Hậu Nghĩa, B́nh Dương, Phước Tuy, B́nh Tuy, Long Khánh, Tây Ninh, Biên Ḥa, Bà Rịa và Vũng Tàu.
4. Quân Khu IV: Tiểu Đoàn 4 QC (TĐ4QC) với 4 Đại đội QC: ĐĐA4, ĐĐB4, ĐĐC4, ĐĐD4QC đóng tại các Đồn QC Cần Thơ, Long Xuyên, Sa Đéc, Châu Đốc, Kiến Phong, Kiến Tường, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà Mau và Kiến Ḥa.
Các vị Tiểu Đoàn Trưởng Quân Cảnh Quân Khu chịu trách nhiệm về hoạt động chuyên môn về ngành Quân Cảnh với vị Tư Lệnh Quân Khu.
II. Quân Cảnh Lục Quân-QLVNCH: Những đơn vị QC trực thuộc Lục Quân-QLVNCH như sau:
1. Bộ Binh: QLVNCH có 11 Sư Đoàn Bộ Binh (SĐBB), mỗi SĐBB-QLVNCH có một ĐĐQC trực thuộc được phân phối như sau:
SĐ1BB: Đại Đội
101 Quân Cảnh (ĐĐ101QC)
SĐ2BB: ĐĐ102QC
SĐ3BB: ĐĐ103QC
SĐ5BB: ĐĐ105QC
SĐ7BB: ĐĐ107QC
SĐ9BB: ĐĐ109QC
SĐ18BB: ĐĐ118QC
SĐ21BB: ĐĐ121QC
SĐ22BB: ĐĐ122QC
SĐ23BB: ĐĐ123QC
SĐ25BB: ĐĐ125QC.
2. Các Sư Đoàn Tổng Trừ Bị QLVNCH (SĐTTB): mỗi SSĐTTB-QLVNCH có 1 Đại Đội Quân Cảnh trực thuộc như sau:
Sư Đoàn Nhảy Dù-QLVNCH (SĐND): ĐĐ204QC

Đồn Quân Cảnh 204 tại cồng trại Hoàng Hoa Thám-Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù- H́nh trích từ tài liệu [7]

Chân dung Quân Cảnh Nhảy Dù 204-H́nh trích từ tài liệu [7]
Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến-QLVNCH (SĐTQLC): ĐĐ202QC
3. Quân Chủng Không Quân QLVNCH: ĐĐ203QC. Trong thời chiến, KLVNCH có sáu (6) Sư đoàn Không quân, mỗi SĐKQ-KLVNCH có 1 Đại Đội QC trực thuộc.
4. Quân Chủng Hải Quân QLVNCH: ĐĐ201QC
5. Biệt Khu Thủ Đô VNCH (Sài G̣n-Gia Định-Chợ Lớn và Phủ Tổng Thống): Có Tiểu Đoàn 6 Quân Cảnh (TĐ6QC) với 5 Đại Đội QC: các ĐĐA6, ĐĐB6, ĐĐC6 và ĐĐD6QC đóng tại các Trạm QC ở cầu Nhị Thiên Đường, Phú Lâm, Tân Thuận, G̣ Vấp, Đồn QC Thủ Đức, Trạm Xa Lộ Sài G̣n-Biên Ḥa (nhiệm vụ chính là kiểm soát các đoàn quân xa vào Sài G̣n). Và một Đại đội QC được biệt phái cho trạm QC ở Phủ Tổng Thống.
Ngoài ra c̣n có ba (3) Tiểu Đoàn QC Tổng Trừ Bị cho BTTM-QLVNCH. Các TĐQC này là: TĐ5QC, TĐ11QC và TĐ12QC. Riêng TĐ12QC, vào năm 1971 đă được điều động tham dự cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 để thiết lập các trạm kiểm soát ở Quảng Trị, Ái Tử, Đông Hà, Cam Lộ, Khe Sanh và Lao Bảo.
III. Quân Cảnh Quân Trường và Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự: QC tại các QT & TTHL này thuộc cấp số Phân Đội, được phân phối như sau:
Quân Trường Bộ Binh Thủ
Đức: Phân Đội 301 QC (PĐ301QC)
Quân Trường Vơ Bị Đà Lạt: PĐ302QC
Quân Trường Bộ Binh HSQ Đồng Đế, Nha
Trang-Khánh Ḥa: PĐ303QC
Trung Tâm Huấn Luyện (TTHL) Quang Trung: PĐ304QC
TTHL Biệt Động Quân (BĐQ) Dục Mỹ:
PĐ305QC.
Các vị Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan Quân Cảnh ở các quân trường và TTHL do Bộ Chỉ Huy Quân Cảnh-QLVNCH bổ nhiệm.
Do t́nh h́nh chiến sự sau Tết Mậu Thân, Bộ TTM-QLVNCH thành lập thêm 4 Tiểu Đoàn QC là TĐ7, 8, 9 và TĐ14QC trách nhiệm canh giữ, điều hành các Trại Giam Tù Binh cộng sản ở các Quân Khu và ở các đảo Côn Sơn và đảo Phú Quốc, v.v.
Sau Hiệp Định Paris 1973, 4 TĐQC nêu trên được giải tán hoặc cải tuyển sang Binh chủng Biệt Động Quân(BĐQ).
Binh Chủng Quân Cảnh c̣n có những Đại Đội, Phân Đội, Tiểu Đội Quân Cảnh Điều Tra Tư Pháp ở bốn Quân Khu-QLVNCH.
IV. Bộ TTM-QLVNCH: ĐĐ 1 Quân Cảnh. Nhiệm vụ kiểm soát các cổng ra vào và thi hành các lệnh của vị CHT/Tổng Hành Dinh Bộ TTM.

Đội Danh Dự Quân Cảnh tại cổng Bộ Tổng Tham Mưu- H́nh trích từ tài liệu [2]

Đôi Danh Dự Quân Cảnh tại một trung tâm huấn luyện ( không rơ tên) H́nh trích từ tài liệu [2]
Theo tài liệu [4] & [5] & [8] :
Tổ chức của Quân Cảnh gồm:
A. Quân Cảnh Hành Quân
B. Quân Cảnh Tư Pháp (Tiền thân là Hiến binh)
Nhiệm vụ của Quân Cảnh Hành quân
1. Duy tŕ quân phong quân kỷ trong quân đội :
Thi hành kỷ luật và điều chỉnh tác phong đối với các quân nhân từ sĩ quan, hạ sĩ quan đến binh sĩ trong tất cả các đơn vị từ hậu phương cho đến tiền tuyến trong Quân Lực Việt Nam Cộng ḥa, đồng thời phối hợp với đơn vị (cấp Đại đội) Quân cảnh và Kiểm soát của các quân binh chủng như: Hải quân (ĐĐ 201), Không quân (ĐĐ 203), Nhảy dù (ĐĐ 204), Thủy quân Lục chiến (ĐĐ 202), Biệt động quân (Ks Bđq), Thiết giáp binh, Pháo binh, Công binh v.v... và các tiểu khu (Địa phương quân và Nghĩa quân). Các quân trường và trung tâm huấn luyện Quốc gia để thi hành quân luật. Các quân trường lớn như Trường Sĩ quan Vơ bị Đà Lạt, Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, Quân trường Quang Trung, Quân trường Dục Mỹ v.v... đều có các phân đội Quân cảnh của binh chủng Quân cảnh.

Xe Quân Cảnh đi tuần – H́nh trích từ tài liệu [4]

Xe Quân Cảnh đi tuần – H́nh trích từ tài liệu [2]

Quân Cảnh ở một trạm kiểm soát trong trung tâm thành phố – Năm không xác định- H́nh trích từ tài liệu [4]

Quân Cảnh điều khiền giao thông tại một ngă tư đường – H́nh trích từ tài liệu [2]

Quân Cảnh điều khiền giao thông – H́nh trích từ tài liệu [9]

Một Quân Cảnh bồng một phụ lảo ra khỏi vùng giao tranh trong một khu ngoại ô -H́nh trích từ tài liệu [2]

Quân Cảnh đang xét giấy một quân nhân tại một trạm kiểm soát ở Phan Thiết năm 1968- H́nh trích từ tài liệu [4]
Quân Cảnh đang bắt giữ một binh sĩ tại Pleiku-Năm không xác định- H́nh trích từ tài liệu [10]
Quân Cảnh kiểm tra giấy tờ một người lính trên đường Lê Lợi, Saigon, năm 1972- H́nh trích từ tài liệu [10]


Quân Cảnh và một nhân viên Cảnh Sát Quốc Gia - H́nh trích từ tài liệu [2]

Quân Cảnh và hai nhân viên Cảnh Sát Quốc Gia- H́nh trích từ tài liệu [2]

Một đội tuần cảnh hỗn hợp- Quân Cảnh Việt Nam, Mỹ và Đại Hàn - H́nh trích từ tài liệu [2]
2. Hộ tống và hướng dẫn lưu thông các đoàn quân xa :
Chuyển quân, tiếp vận và các công vụ khác v.v...
3. Điều hành các đồn Quân Cảnh :
Đặt các Trạm kiểm soát để kiểm tra quân nhân.
4. Điều hành các trại giam tù binh :
Các trại giam lớn như: Chí Ḥa, Côn Đảo, Phú Quốc. Ngoài ra, c̣n những trại giam nhỏ ở 4 quân khu và trại giam tù binh ở Qui Nhơn v.v...
Theo tài liệu [6] : Mỗi quân khu đều có một trại giam do những Tiểu Đoàn Quân Cảnh đảm trách canh giữ. Riêng Vùng 2 th́ có thêm một trại giam phụ nữ ở Qui Nhơn và một trại giam ở Đặc Khu Phú Quốc th́ có bốn tiểu đoàn Quân Cảnh canh giữ tù binh Cộng Sản.

Hai Quân Cảnh đang giám sát một tên tù việt cộng – Năm không xác định- H́nh trích từ tài liệu [4] (Phụ chú : Hai Quân Cảnh canh tù nhưng không không có đeo vũ trang trên người !).

Quân Cảnh đưa tay giúp đở một tù b́nh việt cộng sắp sửa được thả - H́nh trích từ tài liệu [2]

Quân Cảnh trong buổi trao đổi tù gần Thạch Hăn-Quảng Trị năm 1973 - H́nh trích từ tài liệu [2]

Quân Cảnh cho chỉ thị một đám tù việt cộng vào dịp trao đổi tù năm 1973 - H́nh trích từ tài liệu [2]
5. Điều hành các trại quân kỷ :
Các quân lao của 4 quân khu: Đà Nẵng (quân khu 1), Nha Trang (quân khu 2), G̣ Vấp (quân khu 3), Cần Thơ (quân khu 4). Các trại tạm giam: Trại Nguyễn Văn Sâm (B́nh Chánh, Gia Định), Quân vụ thị trấn (Sài G̣n), quân trấn ở các Biệt khu, Đặc khu và các trại tạm giam ở các quân khu, tiểu khu, chi khu trên toàn quốc. Các trại chuyển tiếp quân nhân hồi ngũ ở 4 đơn vị Quản trị trung ương thuộc 4 quân khu.
6. Áp giải quân nhân :
Các quân nhân phạm pháp h́nh sự, các quân nhân đào ngũ hoặc vi phạm kỷ luật đến quân lao, ṭa án mặt trận quân sự và di lư đến trại giam sau khi những thành phần này đă thụ án.
7. Áp giải tù binh :
Các tù binh từ tiền tuyến về hậu cứ và đến các trại giam.
8. Bảo vệ an ninh cơ sở Quân đội.
Nhiệm vụ của Quân Cảnh Tư Pháp
1. Điều tra và thụ lư các vi phạm quân luật quân đội.
2. Hỗ trợ các ṭa án Quân Sự Mặt Trận :
Gồm các ṭa án Mặt trận Trung Ương (Sài G̣n), ṭa án Mặt Trận của 4 quân khu. Ngoài ra c̣n những ṭa án mặt trận lưu động trên toàn quốc.
3. Phụ giúp Nha Quân Pháp :
Thiết lập hồ sơ các vụ phạm pháp .
Điều tra tư pháp và truy tố các vi phạm h́nh luật liên quan đến quân đội.
4. Điều hành các đơn vị Quân Cảnh Tư Pháp :
Những năm đầu thập niên 1960 ngành Hiến Binh Quốc Gia do Thiếu tá Lê Nguyên Phu làm Chỉ Huy Trưởng (Sau cùng là Đại tá Giám đốc Nha Quân Pháp, giải ngũ năm 1965).. Trụ sở đặt tại đường Gia Long, trước mặt Bộ Quốc Pḥng. Khi được lệnh giải tán, một số nhân sự Hiến Binh chuyển qua Quân Cảnh, một số chuyển qua Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia.
Chỉ huy trưởng qua các thời kỳ
Họ và Tên - Cấp bậc -Tại chức - Chú thích
1 -Nguyễn Công Khanh-Vơ Bị Địa Phương-Nam Việt Vũng Tàu -Trung Tá -1959-1963 -Thăng cấp Đại Tá năm 1960. Sau là Trưởng pḥng Điều nghiên thuộc Bộ Quốc Pḥng;
2 -Nguyễn Ngọc Thiệt-Vơ Bị Đà Lạt K5-Thiếu Tá -1963-1965 -Chỉ huy trưởng lần thứ nhất;
3 -Nguyễn Hiếu Trung-Vơ Khoa Thủ Đức K4 -Đại Tá -1965-1968 -Sau là Đại Tá chuyển qua Pḥng Tổng thanh tra Quân Lực bộ Tổng Tham Mưu;
4 -Nguyễn Ngọc Thiệt - Đại Tá -1968-1972 -Chỉ huy trưởng lần thứ hai;
5 -Nguyễn Chấn Á -Thiếu tướng -1972 -Sau giữ chức vụ Cố vẩn Tổng cục Chiến tranh Chính trị ;
6 -Nguyễn Hữu Phước-Vơ Bị Đà Lạt K5 -Đại Tá -1972-1973 -Sau là phó Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội ;
7 -Nguyễn Văn Kinh-Vơ Khoa Thủ đức K5- Đại Tá -1973-1975.
Năm 1974, một số Tiểu đoàn Quân Cảnh được chuyển sang đơn vị tác chiến để thành lập Liên Đoàn 8 Biệt Động Quân.
Theo tài liệu [6] : Năm 1974, một số tiểu đoàn Quân Cảnh được chuyển sang đơn vị tác chiến để thành lập Liên Đoàn 8 Biệt Động Quân, hai tiểu đoàn trừ bị 12 (và 5? hay 11?) Quân Cảnh của Sài G̣n và Tiểu Đoàn Trừ Bị 11 của Vùng 2 được thuyên chuyển qua các Sư Đoàn Bộ Binh.
Theo tài liệu [2] : Giả sử nếu 2 Sư Đoàn Biệt Động Quân (BĐQ) đă được thành lập sớm hơn, th́ mỗi Sư Đoàn BĐQ này đă có một Đại Đội Quân Cành (ĐĐQC) được thành lập. Và các sĩ quan BĐQ sẽ được gởi đi thụ huấn Khóa Sĩ Quan Căn Bản Quân Cảnh tại Trường Quân Cảnh ở Vũng Tàu như các một Đại Đội Trưởng Quân Cảnh của các quân binh chủng-QLVNCH.
Những vị Quân Cảnh đă tuẫn tiết vào ngày 30 Tháng Tư, 1975 (trích từ [6] ) :
Tên và địa điểm tuẫn tiết gồm có: Đại Úy Nguyễn Ḥa Đương (Trường Quân Cảnh Vũng Tàu), Trung Úy Trần Văn Kính (Trường Quân Cảnh Vũng Tàu), Trung Sĩ Nhất Nguyễn Lương Hùng (Trường Quân Cảnh Vũng Tàu), Thượng Sĩ Trần Chánh Tạo (tại Bộ Chỉ Huy Quân Cảnh), Thượng Sĩ Nguyễn Linh Đông (văn pḥng Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô), Trung Sĩ Nguyễn Văn Ḥa (Đồn Quân Cảnh Phú Cường B́nh Dương), Trung Sĩ Nhất Trần Văn Minh (sân cờ Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH), Hạ Sĩ Nhất Lê Công Hưởng (Ngă Ba Ḥm Sài G̣n).
Theo tài liệu [11] : 11 giờ 40 ngày 30 tháng 4-1975 tại cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu : Trung Sĩ Nhứt Trần Văn Minh khóc và nói một ḿnh “Thôi rồi, mất nước rồi.” Nói xong anh Minh bước tới gần cột cờ Bộ Tổng Tham Mưu, nghiêm chỉnh đưa tay lên, chào xong móc khẩu Colt 45 bên hông kê lên màng tang. Một tiếng nổ đơn độc vang lên. Minh ngă xuống. Trung sĩ Nhứt Trần Văn Minh đă trả xong nợ nước vào giờ thứ hai mươi lăm.
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
2. https://bienxua.wordpress.com/2017/07/08/lich-su-hinh-anh-sinh-hoat-binh-chung-quan-canh-qlvnch/ Lịch sử & H́nh ảnh sinh hoạt Binh Chủng Quân Cảnh QLVNCH- QC và BĐQ Dương Thành Thới - Mùa Xuân Đinh Dậu – 2017 -Posted by bienxua on July 8, 2017.
3. https://www.facebook.com/100071220504891/posts/v%C5%A9ng-t%C3%A0u-1968-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-qu%C3%A2n-c%E1%BA%A3nh-qlcnch1968-arvn-military-police-base-in-vung-tau-/435321645518515/ Những H́nh Ảnh Cũ - 13 février 2024 .
4. https://www.facebook.com/oldsaigon75/posts/qu%C3%A2n-c%E1%BA%A3nh-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BB%AB-n%C4%83m-1959-cho-t%E1%BB%9Bi-1975-thu%E1%BB%99c-qu%E1%BB%91c-gia-vi%E1%BB%87t-nam-c%E1%BB%99ng-h%C3%B2a-l%C3%A0/1985830431465883/ Sài G̣n Xưa - 12 décembre 2018.
5. https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_c%E1%BA%A3nh_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Quân Cảnh Việt Nam Cộng Ḥa .
6. https://saigonnhonews.com/tin-dia-phuong/ca/cuu-quan-canh-tai-little-saigon-ky-niem-58-nam-thanh-lap-binh-chung-quan-canh/ Cựu Quân Cảnh tại Little Saigon kỷ niệm 58 năm thành lập Binh Chủng Quân Cảnh -Lâm Hoài Thạch/Người Việt – 17 tháng 9, 2023
7. file:///E:/Quan%20truong/Nhay%20du%20TAI%20LIEU/TS-TieuDoanYemTro-SDND.pdf Các Đơn Vị Yểm Trợ Sư Đoàn Nhảy Dù – Đại Đội 204 Quân Cảnh-Sư Đoàn Nhảy Dù .
8. https://linhvnch.wordpress.com/quan-canh-vnch/ Quân Cảnh VNCH .
9. https://www.facebook.com/media/set/?set=a.781983928573091.1073741901.113958848708939&type=3 Quân Cảnh VNCH .
10. https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975) .
11. https://ongvove.wordpress.com/2010/04/23/ng%C6%B0%E1%BB%9Di-qc-cu%E1%BB%91i-cung-ch%E1%BA%BFt-t%E1%BA%A1i-b%E1%BB%99-t%E1%BB%95ng-tham-m%C6%B0u/ Người Quân Cảnh Cuối Cùng Chết Tại Bộ Tổng Tham Mưu - Quân Cảnh Huỳnh Hồng Hiệp, San Jose .
41- Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng – Đường Thống Nhất-Quận 1- Sài g̣n
Sau đây là tổ chức Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng Việt Nam Cộng Ḥa theo tài liệu [1]
Nhắc tới danh từ quốc pḥng, nhiều người vẫn quan niệm rằng đó là lănh vực quân sự của các nguời cầm súng. Điều này chỉ đúng một phần. Lănh vực quân sự tuy quan trọng thật nhưng chỉ chiếm một phần trong công cuộc giữ nước, dựng nước. Nhu cầu quốc pḥng đ̣i hỏi một nỗ lực chung của mọi lănh vực từ chính trị, kinh tế tới các vấn đề tâm lư xă hội v.v. tất cả đều hướng về mục tiêu chung: phục vụ cho nhu cầu an ninh quốc gia.
Tại các quốc gia tiền tiến nhiều tổ chức ra đời để phục vụ cho nhu cầu quốc pḥng như trường Cao đẳng chiến tranh (War college), Đại hoc chiến tranh Lục Quân, Hải, hay Không quân (Army, Navy, Air Force War Colleges), Cao Đẳng quốc pḥng (National Defense College), Cao Đẳng Công Kỹ Nghệ (Industrial armed forces College) v.v. Mỗi quốc gia thường có một hoặc đôi ba trường ở tầm cỡ này. Tại quốc gia lớn như Hoa Kỳ họ tổ chức đầy đủ các trường như đă nêu trên. Trong khi tại Pháp, Anh hay Đức chỉ có một trường Cao Đẳng Chiến tranh duy nhất mà thôi.
Trước năm 1967, QLVNCH đă bành trứớng tới trên một triệu quân, trường huấn luyện quân sư cao nhất mới chỉ là trường Chỉ Huy Tham Mưu, nơi đào tạo các sĩ quan có khả năng đảm nhận chức vụ Tư Lệnh hay sĩ quan tham mưu cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn. Trên hệ thống đó chưa có một trường huấn luyên nào quân sự cũng như dân sự dành riêng cho nhu cầu quốc pḥng vừa nói.
Cho măi tới năm 1967, trường Cao Đẳng Quốc Pḥng mới thực sự ra đời.
Trường tọa lạc ở cuối đại lộ Thống Nhất gần Thảo Cầm Viên thuộc quận 1-Sài g̣n.Địa điểm của Trường, thời Pháp thuộc là một cơ sở có tên là Foyer du Soldat et Marin .

Foyer du Soldat et du Marin-Année 1930- H́nh trích từ tài liệu [2]

Foyer du Soldat et du Marin - Ảnh manhhai

Mặt tiền Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng năm 1972- Photo by Wilkinson-Ảnh manhhai
tài liệu [3]
Quân kỳ - H́nh trích từ tài liệu [4] & [5]
Khẩu hiệu : An bang -Tế thế
Nhiệm vụ đựợc giao cho Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng này là đào tạo môt lớp cán bộ
quân, chính, có khả năng đảm nhiệm các chức vụ quan trọng liên quan tới hệ thống an ninh quốc gia, đồng thời có thể nghiên cứu đề thảo họach ra một chính sách an ninh quốc pḥng.
Tài liệu [5] cũng viết tương tự như trên :
Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng là trường đào tạo cao cấp dành cho cấp lănh đạo và chỉ huy cao nhất, tương ứng với trường War College của Hoa Kỳ hay các nước tiên tiến trong Thế Giới Tự Do. Trường này có nhiệm vụ đào tạo một số cán bộ quân sự và hành chính cao cấp ưu tú cho quân lực và chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa.
Những học viên thụ huấn ở Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng sẽ được bổ sung kiến thức, chiến lược và chiến thuật, t́m hiểu về những phương diện tân tiến trên thế giới. Sau khi măn khoá, những học viên thụ huấn sẽ đem những hiểu biết của ḿnh về truyền đạt lại cho quân nhân các cấp thuộc đơn vị của ḿnh, đồng thời cùng đơn vị nói riêng và toàn quân, toàn dân nói chung, áp dụng trên thực tế và trong chiến đấu, ngơ hầu đem lại kết quả tốt trong công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước.
Được lựa chọn theo học trường này trong quân lực tối thiểu phải là cấp Đại Tá (có khoá chọn thêm vài học viên cấp Trung Tá theo tài liệu [5] ). Các ngành ngoài quân đội (lĩnh vực hành chính) , phải là cấp Tổng Giám Đốc trở lên. Trong những năm đầu phôi thai tiêu chuẩn này thường đuợc châm trước.
Khóa học đầu khai giảng vào tháng 5, 1968 gồm 15 cấp tá và 6 học viên cao cấp hành chánh. Họ ra trường vào tháng 4, 1969.
Khóa Hai gồm 16 học viên gốc quân đội (gồm cả tướng lănh) và 8 cán bộ cao cấp thuộc các Bộ Phủ. Sĩ số học viên tăng dần theo mỗi khóa, cho tới khóa chót có khỏang 50 học viên theo học.
Chương tŕnh huấn luyện bao gồm 10 môn học và 7 buổi hội thảo chính trong các địa hạt Bang Giao Quốc Tế (sau đổi thành Chính Trị); Kinh Tế; Xă Hội và Chiến Lược Quân Sự.
Đặc biệt tại trường Cao Đẳng Quốc Pḥng không có các nhân viên giảng huấn cơ hữu. Tùy theo đề tài cần đựoc học hỏi, các chuyên viên có uy tín trong địa hạt đó được mời tới thuyết tŕnh hoặc tham dự hội thảo. Các nhân vật danh tiếng trong các ngành trong và ngoài chính quyền, các Đại sứ ngọai quốc có nhiệm sở tại VN hay các nhân vật danh tiếng quốc tế thường được mời tới thuyết giảng trong số đó có Đại sứ Hoa Kỳ Bunker, William Colby, các tướng lănh ngọai quốc như Đại Tướng Vanuxem (Pháp), Sarong (Úc) và các Giáo Sư danh tiếng như Vũ Quốc Thúc, Nguyễn Cao Hách, Nguyễn Văn Canh, Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Văn Thuyết, Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Xuân Oánh, PhạmThị Tự, LS Trần Văn Tuyên v.v. Tùy viên quân sự DoThái tại Thái Lan và các tùy viên ngọai quốc tại Sàigon cũng được mời tới.
Trong các dịp này các học viên có cơ hội thảo luận trực tiếp với các thuyết tŕnh viên. Sau đó lớp học đựoc chia ra từng nhóm mổ sẻ về các đề tài vừa được thảo luận.
Trong những buổi thảo luận nhóm như vậy, học viên xử dụng phương pháp động năo hội (Brainstorming) để kích thích khả năng mổ sẻ vấn đề một cách có hệ thống. Ngoài các địa hạt học tập nói trên, các học viên phải qua một lớp Anh Văn thực dụng ngơ hầu có một số vốn ngọai ngữ đủ để thảo luận với các diễn giả ngọai quốc

Một buổi hội thảo tại Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng năm 1972 – H́nh trích từ tài liệu [3]
Có thể nói cho tới ngày trường phải đóng cửa, không một đại sứ nào mà không qua bục giảng của trường CĐQP, không có một giáo chức danh tiếng nào không có mặt ít nhất một lần tại trụ sở của trường tai Đại lộ Thống Nhất.
Rất nhiều vị tướng lănh ngọai quốc khi ghé qua Saigon cũng tạo cơ hội đến thảo luận với các học viên trường này. Chưa kể vị nguyên thủ quốc gia, người có công trong việc tạo lập trường này, đă lui tới nhiều lần kể cả các Tướng lănh VN đang giữ các địa vị quan trọng.
Trung Tướng Vĩnh Lộc, sau đó Trung Tướng Lữ Lan lần lượt được bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng nhà trường.
Chỉ huy trưởng qua các thời kỳ (trích từ tài liệu [5] ) :
1 Lữ Lan-Vơ Bị Đà Lạt K3-Thiếu Tướng-1967-1969-Tháng 3 năm 1968, được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II, nhưng vẫn kiêm nhiệm Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng. Tháng 4 năm 1969, được vinh thăng cấp Trung Tướng tại nhiệm và tháng 8 cùng năm bàn giao Trường Cao đẳng lại cho tướng Vĩnh Lộc;
2 Vĩnh Lộc-Vơ Bị Lục Quân Pháp-Trung Tướng-1969-1970;
3 Lữ Lan-1970-1975 Tái nhiệm lần thứ 2.
Dưới quyền vị Chỉ Huy Trưởng có 3 khối chính:
1. Quan trọng nhất là Khối Giảng Huấn, khởi đầu là Chuẩn Tướng Lê Trung Trực làm Giám Đốc kế đến Đại Tá Nguyễn Vĩnh Xuân, rồi Đại Tá Vũ Quang.
Khối này cùng với các Khoa trực thuộc thiết lập học tŕnh, điều hành chương tŕnh giảng huấn. Có 4 Khóa chính. Khoa Chính Trị trước đó là Khoa Bang Giao Quốc Tế. Khoa Kinh Tế, Khoa Xă Hội Nhân Văn và Khoa Chiến Lược Quân Sự.
Các Trưởng Khoa có nhiệm vụ liên lạc vói các thuyết tŕnh viên và điều hành chương tŕnh giảng huấn.
2. Khối thứ hai là Khối Chiến Lược Vụ. Nhiệm vụ của khối này là phác họa ra các nhu cầu chiến lược, các mục tiêu quốc pḥng để đưa vào khuôn khổ giảng huấn chung.
3. Khối thứ ba là Khối Hành Chánh với nhiệm vụ yểm trợ các nhu cầu điều hành nhà Trường và của các học viên.
Mỗi học viên trước khi ra trường phài nộp một bản Luận văn phản ảnh công tŕnh nghiên cứu của ḿnh về một đề tài do ḿnh chọn lựa liên quan tới nền an ninh quốc gia với sự hướng dẫn của một chuyên viên. Nhiều luận văn giá trị đă được cấp trên chú ư và đuợc áp dụng trong chính quyền.
Sau khóa học các học viên được cơ hội du hành quan sát tới các quốc gia để học hỏi những nét đặc thù về các địa hạt an ninh quốc pḥng của họ. Các quốc gia sau đây đă đựoc các học viên CĐQP tới thăm như Nam Dương, Tân Gia Ba, Do Thái, Đức, Nhật Bản, Pháp Ư, Anh v.v. Đây là cơ hội đặc biệt để các học viên có dịp thu thập kiến thức tại chỗ.
Bên lề các hoat động giảng huấn, Trường c̣n cho xuất bản một nguyệt san mang tên là Tập San Quốc Pḥng. Tài liệu này đăng tải những bài khảo luận về mọi quan điểm liên quan đến nền an ninh quốc pḥng bổ túc các đề tài đă được thảo luận tại trường, Tập san dầy 200 trang xuất bản đều đặn hàng tháng. Độc giả của Tập San không chỉ là các cá nhân mà c̣n các cơ sở trong chính quyền và ngoại quốc.
Người ta dễ dàng t́m thấy trong Thư Viện Quốc gia Hoa Kỳ đầy đủ 68 tập đă đựoc xuất bản từ khởi thủy cho tới khi tan hàng.
Hoạt động được trên 5 năm trường đang trên đà phát triển th́ được chỉ thị ngưng chương tŕnh giảng huấn bắt tay vào việc nghiên cứu bản dự thảo hiệp định ḥa b́nh Ba Lê. Vào thời gian này Hoa Kỳ đi đêm với Bắc Việt. Họ mật đàm về một hiệp định gọi là ḥa b́nh. Chánh phủ VNCH không được tham khảo cho tới khi bản văn kiện chính đă được Hoa Kỳ và Bắc Việt phê chuẩn, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới được TS Kissinger trao cho bản phụ đính (protocol) của bản hiệp định để lấy ư kiến (?). Đă từng chứng kiến các họat động giảng huấn của Trường trong nhiều năm qua Tổng Thống có lẽ cho rằng không có một tổ chức dân sự hay quân sự nào trong chính phủ tập trung được một lúc 4, 5 chục người có tŕnh độ hiểu biết ngang nhau để có thể nghiên cứu về văn kiện này nên đă giao cho Trường nhiệm vụ vừa kể.
Học viên được chia ra từng nhóm để thảo luận từng lănh vực một. Từ đề mục “ngưng bắn tại chỗ” tới việc tổ chức các “ban Liên hợp 2 bên, 4 bên v.v. Cái khó của việc nghiên cứu này là phải cố gắng t́m kiếm thâu lượm các dữ kiện t́nh báo chiến lược để đặt ra mọi giả thuyết. Bởi lẽ bản văn trao cho trường như trên đă nói chỉ là bản phụ đính của văn kiện chính cho nên các học viên đă phải làm việc như “người mù sờ voi”. Bản nghiên cứu trong đó đưa ra 115 đề nghị mới đă được Trường đệ nạp lên Phủ Tổng Thống. Sau đó người ta đựợc biết chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa đă yêu cầu Hoa Kỳ sửa đổi bản văn”ḥa b́nh” với những đề nghị cụ thể, nhưng phía Hoa Kỳ cho rằng quá muộn. Một phái đoàn do Trung Tướng Vĩnh Lộc, Chỉ huy trưởng Trường hướng dẫn với Đại Tá Vũ Quang phụ tá và một vài sĩ quan thuộc bộ Quốc Pḥng và Tổng Tham Mưu đă được gửi sang Ba Lê với nhiệm vụ phụ giúp phái đoàn ḥa hội của Việt Nam Cộng Ḥa trong khuôn khổ đàm phán ḥa b́nh
Khi bản Hiệp định ḥa b́nh đuợc kư kết, toàn thể học viên của trường được bổ nhiệm vào các Ủy ban liên hợp hội họp hàng ngày tại Camp David Tân Sơn Nhứt. Giai đọan giảng huấn của trường chấm dứt dần dần từ đó cho tới ngày Việt Nam Cộng Ḥa sụp đổ .
Tài liệu tham khảo :
1. https://namkyluctinh.org/tac-gia-tac-pham/e-f-g-h/giao-chi---vu-van-loc/truong-cao-dhang-quoc-phong.html Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng- Giao Chỉ, San Jose - Tổ chức Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng Việt Nam Cộng Ḥa-Đại Tá Vũ Quang .
2. https://www.historicvietnam.com/foyer-du-soldat-et-du-marin/ Old Saigon Building of the Week-Former Foyer du Soldat et du Marin, 1937 -Posted on 11/08/2014 by Tim Doling .
3. https://www.flickr.com/photos/97930879@N02/10180674424/in/album-72157634370666379 National Defense College - Sài G̣n 02 Jan 1972 .
4. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
5. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_Qu%E1%BB%91c_ph%C3%B2ng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng Việt Nam Cộng Ḥa .
42- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Đống Đa – Phường Phú Bài- Thị xă Hương Thủy - Phú Bài -Thành Phố Huế -Tỉnh Thừa Thiên
Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Đống Đa (TTHLQG Đống Đa) được kể ra như sau trong tài liệu [1] & [2] :
Trong kế hoạch hiện đại hóa Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Đống Đa trực thuộc quyền điều động của Tổng Cục Quân Huấn,Bộ Tổng Tham Mưu, cùng với các Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia khác trên 4 Vùng Chiến Thuật :
1. Vùng 1 Chiến Thuật : TTHLQG Đống Đa ở Huế và TTHLQG Ḥa Cầm;
2. Vùng 2 Chiến Thuật :TTHLQG Lam Sơn ở Dục Mỹ, Ninh Ḥa, Khánh Ḥa (Nha Trang) và TTHLQG Phù Cát và TTHLQG Pleiku (Trường Sơn) ;
3. Vùng 3 Chiến Thuật : TTHLQG Quang Trung và TTHLQG Vạn Kiếp ;
4. Vùng 4 Chiến Thuật: TTHLQG Chi Lăng ở tỉnh lỵ Châu Đốc (gần núi Thất Sơn, nên c̣n gọi là TTHL Thất Sơn) và TTHLQG /Cao Lănh .
Điều đáng tiếc là hai tài liệu kể trên không có ghi một chi tiết nào về Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Đống Đa .
Theo tài liệu [3] cũng viết rằng Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Đống Đa huấn luyện và đào tạo quân nhân bộ binh cấp hạ sĩ quan và binh sĩ cho Vùng 1 Chiến Thuật .
Ngoài ba tài liệu kể trên ,các tin tức trên mạng về Trung Tâm Luyện Quốc Gia Đống Đa gần như không có, TM chỉ t́m thấy hai tài liệu [4] & [5] sau đây, tạm gọi là có một chút liên quan tới chủ đề .
Theo tài liệu [4 ] : Vào sáng 31 tháng 01 năm 1968 (Mậu Thân), pháo binh giặc cộng Bắc Việt đồng loạt nă vào các căn cứ của chính phủ quốc gia ở Phú Bài, Tiểu Khu Phan Sào Nam và Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa (gần Phú Bài) .
Dựa theo tài liệu [5] : Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Đống Đa có thể là Trung Tâm Huấn Luyện Phú Bài tọa lạc tại Hương Thủy- Phú Bài - Huế .

Các khóa sinh Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Phú Bài - H́nh trích từ tài liệu [5]
Dụa theo tài liệu [4] : Người ta có thể suy ra rằng Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa phải được thành lập trước năm 1968.
Tài liệu tham khảo :
1. https://www.facebook.com/media/set/?set=a.1990430837847177&type=3&comment_id=1990453904511537 Nguyễn Duy- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn KIếp.
2. https://bienxua.wordpress.com/2025/01/11/trung-tam-huan-luyen-quoc-gia-van-kiep-va-gio-thu-25-cua-toi-nguyen-van-xuyen/ Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp và Giờ ‘’ Thứ 25’’ của Tôi -Nguyễn Vân Xuyên -Posted by bienxua on January 11,2025.
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa .
4. https://cand.com.vn/guong-sang/Tri-Thien-Hue---thoi-hoa-lua-i91325/ Long Vân - Thanh B́nh - Trị Thiên Huế - thời hoa lửa - 23/03/2010 .
5. https://www.facebook.com/photo.php?fbid=24576520738604252&set=a.764220766927583&type=3 Đinh Văn Long - 28 mai · Trung Tâm Huấn Luyện Phú Bài .
43- Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quân – Nha Trang & Tân Sơn Nhất tỉnh Gia Định
Theo tài liệu [1] & [2] & [3] :
Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quân được thành lập vào năm 1970 trong Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang tại Nha Trang.
Trường này là một trong tám (8) Trường chính của Trung Tâm. Các vị Giám Đốc các Trường này ngang hàng với các vị Không Đoàn Trưởng của đơn vị tác chiến của các Sư Đoàn Không Quân.(Xem thêm chi tiết trong bài Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang của cùng tác giả) .
Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quân là Đại Tá Trần Phước , tiếp theo đó là Trung Tá Đặng Văn Hậu quyền Giám Đốc , sau là Đại Tá Giám Đốc .
Đầu năm 1973, th́ Bộ Tư Lệnh Không Quân (TLKQ) quyết định di chuyển Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quâ về Tân Sơn Nhất tỉnh Gia Định . Chỉ Huy Trưởng của Trường là Đại Tá Đặng Văn Hậu, Phó Giám Đốc Trung Tá Quách Đ́nh Hảo.

Đại Tá McJoynt, Đại Tá Trần Phước , Trung Tá Đặng Văn Hậu trước cổng Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quân-H́nh trích từ tài liệu [3]
Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quân trực thuộc Tổng Cụ Quân Huấn có nhiệm vụ huấn luyện bổ túc cho các sĩ quan trung cấp Không Quân , những kiến thức về hai lănh vực then chốt là Lănh Đạo , Chỉ Huy và Quản Trị và ba lănh vực phụ như Kỹ Năng Thông Đạt , Bang Giao Quốc Tế và Sử Dụng Quân Lực
Sau đây là lược sử thành lập của Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quân trích từ tài liệu [3] :
Khi c̣n chịu ảnh hưởng của Không Quân Pháp, một số ít sĩ quan được tuyển chọn theo học khóa Tham Mưu tại Versailles bên Pháp, gọi là Cours d’Etat Major.
Vào lúc mặt trận Điện Biên Phủ đến giai đoạn kết thúc, Thủ Tướng Mendes France (ông là một phi công trong Lực Lượng Pháp Tự Do trong Thế Chiến 2) phải thanh toán hết ngân khoản viện trợ của Mỹ cho chiến trường Đông Dương nên cấp tốc mở những khóa huấn luyện quân sự (cơ khí, hoa tiêu, vô tuyến, điều hành …) trong số đó có lớp tham mưu ; Tiêu chuẩn để được tuyển chọn là phải thông thạo Pháp ngữ, thâm niên quân vụ và huy chương. Những sĩ quan khóa sinh theo học khóa tham mưu này gồm có:
Các Trung Úy Trần Văn Minh, Vơ Xuân Lành, Nguyễn Văn Trương, Vũ Văn Ước, Nguyễn Thanh Ṭng, Nguyễn Minh Luân…, phần lớn chương tŕnh thuộc loại Mật nên người Pháp chú trọng cho những sĩ quan học viên thăm viếng những tổ chức tham mưu mà thôi ; Thực ra họ cũng chẳng mặn mà ǵ đối với quân đội ta nữa, đến tháng bảy 1955 th́ măn khóa về nước trong lúc hiệp định Genève đă chia đôi đất nước. Tuy nhiên hai vị trong số những học viên này đă nắm giữ những trách vụ then chốt trong Không Quân (KQ) và một vị là chỉ huy trưởng một Đại đơn vị trong Không Quân.
Khi Hoa Kỳ tham gia trực tiếp vào Việt Nam, Bộ Tư Lệnh Không Quân (BLKQ) cũng gửi những sĩ quan theo học các khóa Chỉ Huy và Tham Mưu tại Fort Leavenworth, Fort Benning, Maxwell AFB bên Hoa Kỳ hay tại Trường Đại Học Quân Sự Đà Lạt; Số lượng học viên dành cho Không Quân rất hạn chế nên không đáp ứng được nhu cầu.
Tuy nhiên để có chung một tiêu chuẩn về nguyên tắc chỉ huy và tham mưu nên BTLKQ quyết định thành lập một Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp (CH và TM TC) theo khuôn mẫu của Squadron Officers School gọi tắt là SOS của Không Quân Hoa Kỳ là một trường căn bản về chỉ huy cho các sĩ quan cấp úy được tuyển chọn vào những chức vụ chỉ huy sau này, khi lên cấp Tá, họ sẽ được theo học khóa Air Command & Staff và sau hết là War College; tất cả những quân trường này nằm trong tổ chức của Air University tọa lạc trong căn cứ Không Quân Maxwell tại tiểu bang Alabama.
Vào đầu thập niên 60, Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa (KQVNCH ) bắt đầu thay đổi cơ cấu tổ chức để phù hợp với đà bành trướng từ cấp Đoàn, lên Liên Đoàn, Không Đoàn và Sư Đoàn; Như vậy nhiều đơn vị mới được thành lập và các sĩ quan thâm niên trong chuyên ngành được chỉ định để lănh đạo những đơn vị tân lập, và những sĩ quan này đă hoàn thành tốt nhiệm vụ giao phó nhờ những kinh nghiệm có được sau nhiều năm tháng phục vụ trong đơn vị.
Vào tháng sáu năm 1968, tôi (tác giả tài liệu [3] ) đang giữ trách vụ phi đoàn trưởng Phi Đoàn 114 th́ được Bộ Tư Lệnh Không Quân tuyển chọn theo học khóa Air Command & Staff tại Maxwell AFB cùng với các Thiếu Tá Vơ Văn Ân, Nguyễn B́nh Trứ, Nguyễn Văn Điều theo chương tŕnh huấn luyện thường niên của Khối Huấn Luyện/BTLKQ, thời gian khoảng sáu (6) tháng kể cả khóa AOAIC (Allied Officers & Academic Instructors Course) khoảng 4 tuần lễ .
Đây cũng là khóa đào tạo căn bản cho những huấn luyện viên của Không Quân (KQ) Hoa Kỳ, mỗi học viên, (gồm đủ mọi cấp bậc từ hạ sĩ quan đến sĩ quan, thậm chí cả những nhân viên dân chính) phải thực tập giảng dậy một số bài tập theo những phương thức giảng dạy khác nhau .Các sĩ quan Việt Nam theo học khóa SOS (Squadron Officers School) và Air Command & Staff cũng phải theo học khóa này v́ theo quan niệm của KQ Hoa Kỳ , một cấp chỉ huy phải là một huấn luyện viên trước đă .Những sĩ quan thuộc các quân binh chủng khác của Hoa Kỳ cũng được theo học khóa này cùng với chúng tôi (tác giả tài liệu[3] ), vị giám đốc khóa là Đại tá Fullilove và vị sĩ quan phụ trách các sĩ quan đồng minh là Đại úy Garcia.
Khóa Air Command & Staff thực sự khai giảng vào đầu tháng tám và đên đầu năm 1969 th́ măn khóa cho các sĩ quan đồng minh .
Khi măn khóa học, tôi (tác giả tài liệu [3] ) lên pḥng nhân viên để làm thủ tục hồi hương th́ nhà trường cho biết là tôi có lệnh ở lại để quan sát việc điều hành trường SOS. Tôi hết sức ngạc nhiên v́ không được Bộ TLKQ báo trước, nhưng tôi cũng linh cảm rằng sau khi măn khóa học tôi sẽ không trở về lại Phi đoàn 114 nữa, v́ thường thường một sĩ quan sau khi măn khóa học sẽ giữ một trách vụ khác và có thể là tôi sẽ giữ một trách vụ nào đó của Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp sẽ được mở trong tương lai tại Nha Trang.
Tôi tới tŕnh diện ban Giám đốc trường SOS.Tại đây tôi được các sĩ quan trong ban giảng huấn ân cần tiếp đón. Vị sĩ quan phụ tràch hướng dẫn cho tôi là Thiếu Tá McJoynt, và sau đó thêm hai vị nữa là Thiếu Tá Sanchez và Đại úy Zeitler. Tôi được dành riêng một bàn làm việc và bắt đầu ngay nhiệm vụ được giao phó.
Mục đích của trường SOS là đào tạo những sĩ quan được tuyển chọn (cấp bậc từ Trung Úy đến Đại Úy) để có thể giữ trách vụ lănh đạo và chỉ huy một đơn vị thuộc cấp Đoàn trong Không Quân. Quan niệm huấn luyện của nhà trường là The Whole Man Concept, nhằm vào sự giáo dục những vị chỉ huy tương lai về ba lănh vực chính: Knowledge (Kiến Thức), Skills (Kỹ Năng) và Ethics (Đạo Đức)
Thiếu Tá McJoynt đặc trách về môn quản trị trong ban giảng huấn nên đă sắp xếp cho tôi một chương tŕnh học hỏi rất là hoàn hảo . Ngoài những buổi thuyết tŕnh về cách thức điều hành của từng phần sở, tôi c̣n được trực tiếp ngồi học cùng các sĩ quan học viên trong các lớp hội thảo để có cái nh́n thực tế về sinh hoạt của một lớp học cũng như quan sát những hoạt động thể thao ngoài trời nhằm mục đích phát huy sự lănh đạo chỉ huy như bóng chuyền (đặc biệt ở đây mỗi bên có chín người), bóng đá (đặc biệt không có luật việt vị, không được dùng đầu) và Flicker Ball (môn thể thao này chỉ có những ai học qua trường SOS mới biết, luật chơi tương tự như bóng rổ, nhưng trái banh h́nh bầu dục và chơi trên sân cỏ), và c̣n một môn học rất thực tiễn trong việc áp dụng những nguyên tắc về lănh đạo để giải quyết vấn đề cũng như về thông đạt trong những t́nh huống thật bất thường dưới áp lực của thời gian, đó là Dự Án X (Project X).
Với sự tận tâm hướng dẫn của Thiếu Tá McJoynt tôi được biết việc tổ chức và điều hành một khóa học cũng như nội dung của chương tŕnh huấn luyện cùng những tài liệu bài vở cần thiết cho một học viên .
Theo nhận xét của tôi có những môn học không thể áp dụng cho KQVN được, như Văn Thư Quân Sự theo lối của Không Quân Hoa kỳ, nhất là về phần sử dụng lực lượng (Employment of Forces) là lănh vực sau cùng để cho học viên biết những khả năng và phương thức điều động các lực lượng không quân trong trận chiến, nhưng tôi nghĩ sau này chúng ta có thể linh động thay đổi cho phù hợp với thực tại của nước nhà.
Vào tháng tư 1969, lúc tôi được lệnh trở về Việt Nam .
Trong suốt mùa hè năm 1969, tôi tiếp nhận những sách giáo khoa của Trường SOS gửi tới và phác họa chương tŕnh huấn luyện dập theo thời lượng của lớp SOS là 12 tuần lễ hay là 468 giờ .Cùng trong thời gian này, một số sĩ quan huấn luyện viên được Bộ TLKQ bổ sung cho ban giảng huấn, những sĩ quan này đều là những cựu học viên của trường SOS trước đây như Nguyễn Hữu Dịch, Hồ Xuân Đệ, Trương Quang Nghi, Nguyễn Văn Thiệt, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Danh Ngôn, Vĩnh Quốc, Nguyễn Kim, Lưu Đức Thanh, Đoàn Hựu, Đinh Quốc Hùng, Lê Cảnh Lợi …
Chương tŕnh học được chia làm 5 lănh vực:
-Lănh vực 1: Kỹ Năng Thông Đạt;
-Lănh vực 2: Bang Giao Quốc Tế;
-Lănh vực 3: Lănh Đạo Chỉ Huy;
-Lănh vực 4: Quản Trị;
-Lănh vực 5: Sử Dụng Quân Lực.
Công việc phải làm gấp rút v́ khóa đầu tiên sẽ khai giảng đầu năm 1970, phải chuẩn bị pḥng ốc, giảng đường, các lớp hội thảo, nơi ăn chốn ở cho các học viên song song với việc phiên dịch những tài liệu căn bản của trường SOS được gởI tới .
Các sĩ quan cố vấn cho trường cũng tới từ Maxwell AFB, đều là những gương mặt quen thuộc từ trước như Thiếu Tá McJoynt, Thiếu Tá Sanchez và Đại Úy Zeitler. Họ cũng bắt tay ngay vào việc, Thiếu Tá Sanchez và Đại Úy Zeitler lo việc xây cất Dự án X, thay v́ có 12 bài thực tập chúng tôi thu bớt lại chỉ c̣n 8 bài tập cho phù hợp với hoàn cảnh của Không Quân Việt Nam.
Thiếu Tá McJoynt liên lạc với các đơn vị bạn Hoa Kỳ để tiếp nhận những vật dụng cần thiết mà do chương tŕnh Việt Nam hóa đang được chuyển giao cho Việt Nam; Nhờ vậy, bàn ghế, dụng cụ văn pḥng, trợ huấn cụ cho nhà trường rất đầy đủ.
Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không quân có may mắn là được Đại tá Trần Phước, một vị sĩ quan cao cấp với kinh nghiệm nhiều năm giữ trách vụ chỉ huy phó Trường Đại Học Quân Sự của QLVNCH tại Đà Lạt, làm Giám Đốc nên chúng tôi trong ban giảng huấn được hướng dẫn rất kỹ lưỡng trong công tác giao phó.
Sau đây là sơ đồ tổ chức sơ khởi:
Trương Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp không nằm trong Liên Đoàn Huấn Luyện như các trường Phi Hành, Anh Ngữ, Quân Sự… mà trực thuộc Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân.
Giám Đốc: Đại Tá Trần Phước .
Đoàn Khóa Sinh Pḥng Huấn luyện Pḥng Nghiên huấn : Thiếu Tá Nguyễn Hữu Dịch Thiếu Tá Quách Đ́nh Hảo Trung Tá (Đại Tá ?) Đặng Văn Hậu .
Nhờ đươc chuẩn bị từ trước tại Hoa Kỳ và lại có những cố vấn luôn bên cạnh nên mọi giai đoạn đều tiến hành rất đồng bộ .Chúng tôi (tác giả tài liệu [3] ) thường xuyên liên lạc với Bộ TLKQ, báo cáo những tiến triển trong việc soạn thảo các tài liệu giáo khoa cũng như bổ xung những sĩ quan huấn luyện.
Sau khi có danh sách các sĩ quan được tuyển chọn là 40 học viên cho mỗi khóa, Đoàn Khóa Sinh lo việc gởi tới mỗi học viên một tập hướng dẫn gồm lá thư chào mừng của Giám Đốc Trường Chỉ Huy và Tham mưu Trung Cấp, và những thủ tục cần biết khi nhập học.
V́ muốn có sự thi đua đồng đều giữa các lớp hội thảo trong mọi lănh vực của chương tŕnh, nên việc phân chia các học viên thành từng lớp hội thảo là một việc đ̣i hỏi nhiều sự cân nhắc và lựa chọn để cho mỗi lớp đều có một số lượng đồng đều về tuổi tác, gia cảnh, chức vụ, chỉ số ngành cũng như sở trường về các môn thể thao. Phân chia theo chỉ số ngành th́ cũng dễ dàng thôi, nhưng xác định về khả năng thể thao th́ chỉ có một cách là tất cả các học viên đều ra sân chơi thử một trận bóng chuyền dưới sự giám sát của các sĩ quan huấn luyện, và sau khi so sánh kết quả, chúng tôi có thể tạm chia các học viên thành từng lớp hội thảo A, B, C và D, mỗi lớp có 10 sĩ quan học viên và một màu cờ sắc áo riêng.
Trung Tướng TLKQ đích thân ra chủ tọa lễ khai giảng khóa 1 vào đầu tháng giêng năm 1970. Trong bài huấn từ Trung Tướng có nhấn mạnh đến vấn đề phần lớn các sĩ quan học viên đều đă là chỉ huy trưởng đơn vị phi hành nên cần phải tránh lạm dụng những phương tiện cơ hữu để về đơn vị gốc vào dịp cuối tuần và nên tận dụng thời gian học tập để trao đổi những kinh nghiệm về chỉ huy và tham mưu, các sĩ quan huấn luyện của nhà trường sẽ hệ thống hóa những căn bản về chỉ huy và lănh đạo.
Buổi tiếp xúc đầu tiên giữa các sĩ quan học viên và các sĩ quan huấn luyện rất là tế nhị, v́ phần lớn các sĩ quan học viên đều có thâm niên quân vụ, đă hoặc đang chỉ huy một đơn vị, nhiều huy chương .Về phần các sĩ quan huấn luyện th́ hầu như chưa nắm giữ những chức vụ chỉ huy quan trọng. Tuy nhiên những vấn đề nhân sự đó được tan biến ngay khi các sĩ quan học viên biết được rằng họ đến để chia sẻ những kinh nghiệm, những khó khăn về chỉ huy cho các bạn đồng đội để rồi cùng nhau thảo luận dưới sự hướng dẫn của các sĩ quan huấn luyện để hệ thống hóa những yếu tố căn bản của lănh đạo và chỉ huy.
Vị sĩ quan học viên thâm niên nhất sẽ là sĩ quan trưởng khóa, mỗi lớp hội thảo có một vị trưởng lớp và các phụ tá đặc trách về thể thao, về học vụ, về xă hội để khuyến khích và theo dơi việc học tập của các bạn trong lớp.
Phần thể dục cũng được chú trọng không kém, mỗi lớp được tuợng trưng bằng một lá cờ đuôi nheo với màu sắc khác nhau cùng một số “râu”, mỗi kỳ tranh đua thể thao cuối tuần, lớp nào thắng sẽ có thêm một sợi “râu” của lớp thua, và số “râu” trên ngọn cờ này là niềm hănh diện của cả lớp và kích thích sự tham gia nên có những học viên đă xin hủy “mẫu số 8” để được tích cực đóng góp cho vinh quang của lớp ḿnh, v́ sự trang trọng của buổi lễ “vặt râu”, cũng như sự hiện diện của gia đ́nh học viên được mời tới dự kiến trong mỗi lần tranh đua thể thao đă góp phần hào hứng cho sự thi đua giữa các lớp.
Để đánh giá sự hiểu biết tổng quát của sĩ quan học viên trước khi nhập học, mỗi sĩ quan học viên sẽ trả lời một số câu hỏi của bản tiền trắc nghiệm bao gồm những kiến thức tối thiểu của một cấp chỉ huy cũng như những ǵ mà sĩ quan học viên sẽ thông suốt sau khi măn khóa, mỗi học viên được cấp phát một cặp da nhân viên phi hành để đựng tài liệu học tập và một máy đánh chữ nếu có nhu cầu.
Mỗi bài học đều có những “mục đích học hỏi” (Desired Learning Outcome) do nhà trường đề ra để dựa theo đó các giảng viên hoặc thuyết tŕnh viên thượng khách (guest speaker) khai triển bài giảng hay bài thuyết tŕnh, và kèm theo là những câu hỏi và trả lời sẽ được pḥng Nghiên Huấn lưu giữ làm “Ngân hàng trắc nghiệm” (Test Bank) để mỗi lần tổ chức trắc nghiệm đều có sẵn những câu hỏi cần thiết và câu trả lời đúng.
Những lănh vực học hỏi tuy đánh số thứ tự nhưng không hẳn là xong một lănh vực này mới chuyển sang lănh vực khác, lănh vực 1 là kỹ năng thông đạt gồm nhiều bài nói và viết trải dài suốt khóa học, cũng như lănh vực Bang giao quốc tế đều xen lẫn với những lănh vực khác để tránh sự đơn điệu và thay đổi không khí học tập thường rất căng thẳng.
Ngoài ra nhà trường cũng có dự định tạo ra cho trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quân một truyền thống phỏng theo lễ nghi “Dining-In” của trường SOS tức là một buổi tiếp tân theo lễ nghi của những hiệp sĩ thời Trung Cổ bên Âu châu nhưng được cải biến cho phù hợp với hiện thời nên mỗi khóa học đều có một bữa tiệc “Đoàn Kết” để các sĩ quan học viên có dịp tổ chức một buổi tiếp tân nghênh đón một thượng cấp hay một thượng khách theo đúng nghi thức xă giao và được nghe thuyết tŕnh viên thượng khách nói về một đề tài xă hội nào đó.
Bữa tiệc, ngoài phần mặc niệm các tiền nhân đă có công dựng nước và giữ nước, tôn vinh các chiến hữu đă hy sinh để chúng ta có ngày hôm nay, c̣n có phần nâng ly chúc mừng các cấp lănh đạo chỉ huy và phần tự giới thiệu, Chuẩn Tướng Oánh đă đặt tên cho buổi tiếp tân này là “Đêm Ngân Hà” và cũng do đó sau này các lớp hội thảo A, B, C,D…được mang thêm tên những hành tinh trong vũ trụ như Kim tinh, Thổ tinh, Mộc tinh, Thủy tinh, Hỏa tinh, Thiên vương tinh…
Có lẽ những bài nói trong lănh vực thông đạt là được các học viên thích thú v́ lợi ích thực tiễn trong cuộc sống hằng ngày; Có những bài nói ứng khẩu không được chuẩn bị ;Có những bài nói để thông tri một sự việ ;Ccó những bài nói tŕnh bầy sự việc để lấy quyết định ; Có những bài nói để thuyết phục.
Mỗi loại bài nói đều có những quy luật hướng dẫn riêng để đạt được hiệu quả mong muốn, khi măn khóa mỗi lớp sẽ đề cử một đại diện để thi đoạt giải “Diễn giả xuất sắc” toàn khóa, về những bài viết trong lảnh vực này th́ ngoài những h́nh thức văn thư quân sự cũng như những danh xưng và từ ngữ dùng trong nội dung của văn thư các học viên c̣n thực tập viết một bài “Khảo luận” theo đúng tiêu chuẩn về tŕnh bầy cũng như những qui tắc trong việc ghi chú những tiết mục của nội dung. Những bài này đều được lưu tại thư viện của nhà trường.
Thư viện lúc đầu có một số ít sách để tham khảo về những lănh vực chính do trường SOS cung cấp .Về sau do sáng kiến của các học viên, như một món quà lưu niệm, mỗi khóa đều mua tặng thư viện một ít sách báo nên thư viện của trường càng ngày càng phong phú đến nỗi pḥng Nghiên Huấn phăi gửi một sĩ quan theo học một khóa quản thủ thư viện để điều hành phân loại sách theo phương pháp Dewey đúng như mọi thư viện lớn.
Trong lănh vực Bang Giao Quốc Tế, những đề tài liên quan đến bối cảnh thế giới hiện nay, những xung đột giữa các quốc gia, những tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, những tổ chức địa phương như Khối Liên Pḥng Đông Nam A (SEATO), Khối Bắc Đại Tây Dương (NATO), Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á ( ASEAN); Viễn Đông Kinh Ủy Hội (ESCAFE), chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, mục tiêu quốc gia và những công cụ để đạt được mục tiêu quốc gia đều được đề cập tới để các học viên có một ư niệm tổng quát về thế giới sau thế chiến 2. Nhà trường thường liên lạc và mời các giảng viên của Trường Đại học Chiến tranh Chính Trị trên Đà lạt, hoặc Trường Quốc Gia Hành Chánh, những quan chức tại Bộ Ngoại Giao để thuyết tŕnh về những đề tài liên quan .
Lănh vực Lănh Đạo Chỉ Huy và Quản Trị là then chốt của chương tŕnh huấn luyện, hai lănh vực này thường đi song song với nhau v́ có nhiều điểm tương đồng cũng như mục đích tối hậu là hoàn thành mục tiêu mong muốn với những tổn phí thật tối thiểu, tuy nhiên có một sự khác biệt rất lớn là quản lư dở th́ lỗ vốn, nói chung chỉ mất tiền và thời gian, nhưng lănh đạo chỉ huy dở th́ sẽ có những thiệt hại về con người, chiến cụ và thời gian, Không quân là một quân chủng nặng về kỹ thuật nên đ̣i hỏi ở các sĩ quan bảo tŕ, tiếp liệu phải rành rẽ việc theo dơi các tiến tŕnh hoạt động của các ban ngành bằng phương pháp PRAISE và CPM (Critical Path Method) để luôn luôn có được số phi cơ khả dụng tối đa cho nhu cầu hành quân cũng như huấn luyện. Đại tá Trần Ngọc Đóa là vị thuyết tŕnh viên rất quen thuộc với các học viên của trường, nhà trường cũng gửi Thiếu Tá Nguyễn Trắc Yên theo học một lớp về quản trị do pḥng thương mại Sài g̣n tổ chức để cập nhật hóa những phương pháp quản trị mới nhất.
Ngoài ra dù vũ khí có tinh vi đến đâu chăng nữa th́ con người vẫn là vũ khí tối hậu không ǵ thay thế được và chỉ huy được con người là cả một nghệ thuật, do vậy những nhu cầu căn bản của con người đều được phân tích tỉ mỉ cũng như việc giao tế nhân sự và được các vị tướng lănh cũg như các cấp lănh đạo hành chánh tới thuyết tŕnh về kinh nghiệm chỉ huy trong lănh vực của ḿnh.
Dự án X là những bài thực tập về sự tháo vát, về giải quyết vấn đề, trong những t́nh huống thật là éo le phức tạp mà yếu tố thời gian rất là quan trọng.(thí dụ hướng dẫn phi hành đoàn thoát hiểm, vượt chướng ngại vật trong lúc địch quân đang lùng bắt…, tất cả mọi sáng kiến đều được tôn trọng miễn sao với thời gian ngắn nhất tất cả đến được nơi an toàn…)
Về phần lễ nghi quân cách, các học viên được đích thân Đại Tá Phước thuyết tŕnh và phần thực tập do Thiếu Tá Vũ Văn Tuynh trưởng ban quân nhạc thuộc bộ TLKQ hướng dẫn về diễn tiến cùa các buổi lễ nghi khi tiếp đón một thượng cấp, khi bàn giao quyền chỉ huy, khi làm lễ chào cờ, khi duyệt hàng quân ..., các học viên được thực tập những buổi lễ nghi này cùng ban quân nhạc của Bộ TLKQ trên băi tập của nhà trường.
Sang lănh vực sử dụng quân lực, các sĩ quan thuộc các quân binh chủng bạn sẽ tới nói về tổ chức và khả năng của các quân binh chủng liên hệ và nhà trường tổ chức những cuộc thăm viếng các quân trường, các đơn vị bạn, khu công nghiệp ..để các sĩ quan học viên được mắt thấy tai nghe những sinh hoạt của các cơ quan bạn nhằm gia tăng kiến thức tổng quát và cũng để giảm bớt căng thẳng trong học tập và tạo cơ hội để gia đ́nh các học viên có dịp gặp gỡ nhau, nhà trường tổ chức những buổi picnic trên những băi biển thơ mộng và hoang vắng ngoài đảo Ḥn Tre hoặc Vũng Tầu vào cuối tuần.
Thời gian huấn luyện tới đây kể như các sĩ quan học viên đă có được một số kiến thức căn bản về chỉ huy và tham mưu nên một bài tập “trận giả” sẽ trắc nghiệm khả năng “ứng biến” của một cấp chỉ huy. Mỗi lớp hội thảo sẽ đóng vai tṛ một “Trung Tâm Hành Quân Không Trợ” với số nhân viên phi hành, phi cơ, bom đạn xăng nhớt ấn định đang yểm trợ cho quân bạn trong một cuộc hành quân liên quân. Những diễn tiến và t́nh huống bất chợt của trận chiến được ban Giám sát truyền tới các lớp hội thảo qua hệ thống loa và phản ứng của mỗi lớp đều được ban Giám sát ghi nhận và sau đó những ưu khuyết điểm sẽ được mổ sẻ tại giảng đường.
Để kết thúc 12 tuần lễ học hỏi , một bài trắc nghiệm măn khóa với nhửng câu hỏi không khác ǵ mấy trong bài Tiền Trắc Nghiệm để cho các học viên tự đánh giá những tiến bộ “toàn diện” của chính bản thân ḿnh.
Một trận bóng tṛn “thân hữu” giữa những cầu thủ ngôi sao của các lớp và toàn ban “giảng huấn” của nhà trường kể cả giám đốc được diễn ra trên sân tập để các học viên có dịp trút hết “giận hờn” nếu có sau ba tháng trời bị “hành hạ”.
Lễ măn khóa 1/70 được Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ chủ tọa cùng một số tướng lănh (Trung Tướng Vĩnh Lộc, Thiếu Tướng Không Quân Kendall S. Young, Đại Tá Moore Jr. Giám Đốc trường SOS sang dự với tư cách đại diện cho Đại Học Không Quân Maxwell), và các quan khách Việt Mỹ, một đoàn làm phim của KQ Hoa kỳ đă thực hiện một cuốn phim về khóa học đầu tiên này, nữ kư giả Nam Trân đă trích đoạn khi thực hiện cuốn video “Người lính Việt Nam Cộng Ḥa” gần như toàn bộ “Dự án X” được tŕnh chiếu. Sau lễ măn khóa các sĩ quan cố vấn Mỹ được hồi hương.
Về sau lễ mản khóa thường được Tướng Tư lệnh hoặc Tư Lệnh Phó chủ tọa và trao tặng các giải thưởng danh dự cho các lớp gồm giải học vụ, giải lănh đạo ngoài trời, tuyên dương những cá nhân xuất sắc, phát văn bằng tốt nghiệp và tiếp theo là bữa tiệc chia tay tại Hội quán Sĩ quan.
Sau khi điều hành được hai khóa, vào khoảng tháng 7 năm 1970, Đại Tá Trần Phước đươc tuyển chọn theo học Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng và tôi được chỉ định trách vụ quyền Giám đốc.
Nhờ có một thời gian làm chỉ huy phó Trường Đại Học Quân Sự Đà Lạt, sau này cải danh thành trường Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp và dời về Căn cứ Long B́nh, nên Đại tá Trần Phước đă cải tiến và nâng cao chương tŕnh huấn luyện cùa trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quân phỏng theo một số những tài liệu trong chương tŕnh huấn luyện cùa trường Đại học quân sự trên Đà Lạt và đă soạn ra được một cuốn Huấn Thị điều hành căn băn cho nhà trường cho nên về sau việc điều hành các khóa học rất là nhịp nhàng không bị lúng túng v́ những trở ngại bất thường.
Thiếu Tá Nguyễn Danh Ngôn đă sáng tác ra phù hiệu của trường , đó là ba con chim bồ câu tượng trưng cho ḥa b́nh, cho sự hợp đoàn, cho ba lănh vực: Kiến Thức, Đạo Đức, Kỹ Năng, và ṿng nguyệt quế tuợng trưng cho chiến thắng và vinh quang, mẫu này đă được BTLKQ chuẩn nhận để các học viên mang trên nắp túi áo.
Khi hiệp định Paris được kư vào đầu năm 1973, th́ Bộ TLKQ quyết định di chuyển trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp về Biên Ḥa, bởi vậy nhà trường tạm ngưng hoạt động để chuẩn bị cho việc tiếp nhận cơ sở mới. Tôi và Trung Tá Quách Đ́nh Hảo có nhiệm vụ đi Biên Ḥa quan sát và đề nghị những cơ sở có thể sử dụng làm pḥng ốc cho trường CH và TM Trung cấp lên Bộ TLKQ.
Tại căn cứ Biên Ḥa, chúng tôi được hướng dẫn tới một nơi trước kia là Câu lạc bộ Sĩ quan của KQ Hoa kỳ, tôi nhận thấy cách trang trí có vẻ là một “night club”, ánh sáng mờ ảo, phải mất nhiều công của để thiết trí lại cho phù hợp với một quân trường với những pḥng học, giảng đường và các phần sở phụ thuộc, cho nên khi chúng tôi báo cáo kết quả lên Chuẩn Tướng Chỉ HuyTtrưởng TTHLKQ th́ được biết là Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung cấp sẽ dời về Tân Sơn Nhất và tiếp nhận những pḥng sở của Bộ Chỉ Huy Đệ 7 Không Lực Hoa Kỳ nằm trong khuôn viên của Bộ Chỉ Huy Hành Quân KQ.
Đây là một ṭa nhà ba từng lầu với nhiều pḥng nhỏ có thể dùng cho các lớp hội thảo, hai pḥng trần thuật một nằm trên lầu ba có thể nới rộng để làm giảng đường cho khoảng 100 học viên và một ở từng dưới dùng làm pḥng thuyết tŕnh cho các quan khách) .Ttất cả đều có hệ thống điều ḥa không khí trung ương nên các học viên sẽ rất thoải mái. Được tin trường dời về Tân sơn Nhât, cán bộ cũng như các học viên ai nấy đều vui mừng v́, về phần điều hành có những điều kiện thuận lợi hơn trong việc mời những thuyết tŕnh viên nổi tiếng có uy tín, và về nhân sự th́ đa số đều có những liên hệ gia đ́nh tại Sàig̣n.
Trung tá Quách Đ́nh Hảo và Thiếu Tá Trương Quang Nghi được biệt phái về Tân Sơn Nhất để tiếp nhận cơ sở và chuẩn bị việc sắp xếp lại các pḥng ốc, trong khi chúng tôi ở Nha Trang lo tháo gỡ và đóng thùng những vật tư thiết bị của nhà trường để gửi về Sài g̣n. Những nhu cầu về chuyển vận và trang bị của nhà trường đều được ưu tiên thỏa măn để các khóa học được tiếp tục càng sớm càng tốt.
Nhờ sự giúp đỡ tích cực của các cơ quan liên hệ cũng như sự hăng say của các sĩ quan cán bộ và nhân viên nên sau mùa hè 1973, trường Chỉ huy và Tham mưu Trung cấp Không Quân bắt đầu hoạt động trở lại với quy mô rộng lớn hơn, gồm sáu lớp hội thảo với sĩ số khoăng 60 sĩ quan cho mỗi khóa và mỗi năm ba khóa.
Sơ đồ tổ chức như sau:
Giám đốc Đại Tá Đặng Văn Hậu ;
Phó Giám đốc Trung Tá Quách Đ́nh Hảo;
Trưởng Pḥng Nghiên Huấn Thiếu Tá Đoàn Hựu;
Trưởng Pḥng Chương Tŕnh Thiếu Tá Trương quang Nghi ;
Trưởng Pḥng Huấn Luyện ThiếuTtá Hồ Xuân Đệ ;
Trưởng Đoàn Khóa Sinh Thiếu Tá Nguyễn Văn Th́nh ;
Tiêp Liệu Thiếu Tá Trần Điền ;
Thư viện Chuẩn Úy Nguyễn Văn Bằng;
Văn Thư Chuẩn Úy Nguyễn Văn Trợ .
Các sĩ quan huấn luyện:
Lưu Huy Cảnh, Nguyễn Văn Dũng, Vũ Văn Hưng, Trần Đỗ Cẩm, Trần Bảo Lộc, Vĩnh Quốc, Nguyễn Trắc Yên, Nguyễn Văn Phụng, Nguyễn An, Vơ Ṭng Lộc, Trần Đỗ Cẩm…
Về thống thuộc nhà trường vẫn trực thuộc TTHLKQ Nha trang, khi cần gửi văn thư ra ngoài th́ qua Bộ Tư lệnh KQ, khi cấp Sự vụ lệnh cho nhân viên thuộc cấp th́ Chuẩn Tướng Oánh cấp sẵn cho tôi một số sự vụ lênh đă đóng mộc sẵn để tôi kư thừa ủy nhiệm, mọi quyết định hoặc văn thư liên quan đến khóa học đều phải mang ra Nha trang để duyệt kư.
Ngân khoản điều hành không có cho những chi phí về tiếp tân cũng như thù lao phí cho các thuyết tŕnh viên ;Cũng may mắn là do cảm t́nh với KQ mà phần lớn các thuyết tŕnh viên thượng khách đều nhận lời vô điều kiện, tuy vậy nhà trường cũng phải đền đáp lại bằng những món quà tinh thần tốt đẹp mà ḿnh có thể thực hiện được.
Về phần duy tŕ khả năng của nhân viên phi hành th́ chúng tôi được sử dụng phi cơ của TTHL mỗi cuối tuần khi các phi cơ T-41 bay huấn luyện không hành từ Nha trang về qua đêm tại Tân Sơn Nhứt .
Cho tới ngày 30 tháng tư 75, khóa 14/75 đang c̣n dang dở, gần như toàn bộ ban điều hành của trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp theo chỉ thị của TMT/KQ vẫn hoạt động b́nh thường nên đều gặp nhau trong các trại cải tạo rải rác từ nam tới bắc.
Tuy vậy, với thời gian cấp bách để chuẩn bị (tính theo thời gian th́ Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quân được thành lập sớm hơn ba năm), chúng tôi đă cố gắng đóng góp cho sự lớn mạnh của Không Quân trong việc đào tạo hơn 600 sĩ quan có khả năng về chỉ huy và tham mưu, về mặt quyền lợi với chứng chỉ tốt nghiệp các sĩ quan học viên cũng được hưởng thêm 30 điểm khi dự tranh thăng cấp .
Riêng cá nhân tôi ( tác giả tài liệu [3] ) , nhờ thời gian phục vụ tại trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp mà tôi có dịp may được quen biết nhiều anh em Không Quân, được các bạn dành những t́nh cảm thắm thiết trong khi hoạn nạn cũng như lúc an vui, bây giờ tuy không c̣n trong quân ngũ nữa nhưng thỉnh thoảng gặp nhau trong lúc tao ngộ bất cứ tại đâu .Ttôi ngỡ ngàng v́ nhiều thay đổi trên những khuôn mặt thân quen của ngày nào nhưng cảm động thay khi các học viên cũ c̣n nhận ra tôi qua những thăm hỏi đầy ân t́nh:” Chào ông thày, tôi học khóa… “.
Theo tài liệu [2] : Sau 30/4/75, Đại Tá Đặng Văn Hậu, Giám Đốc Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp Không Quân, bị 13 năm tù. Đến Mỹ vào năm 1992 cùng với gia đ́nh và hiện cư ngụ tại tiểu bang Virginia, vùng quanh Washington D.C.
Tài liệu tham khào :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
2. https://vnchtoday.blogspot.com/2019/01/qlvnch-quan-su-khong-quan-cac-giam-oc.html Sunday, January 27, 2019 - QLVNCH: Quân sử Không Quân – Các Giám Đốc Trường (Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang) .
3. https://bienxua.wordpress.com/2021/10/25/truong-chi-huy-va-tham-muu-trung-cap-khong-quan-vnch-dang-van-hau/ Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Trung Cấp Không Quân VNCH – Đặng Văn Hậu -Posted by bienxua on October 25, 2021 .
44- Quân Trường Huấn Luyện Địa Phương Quân
Dưới đây là vài h́nh ảnh về Quân Trường Huấn Luyện Địa Phương Quân t́m thấy trong tài liệu [1]




Điều đáng tiếc là tài liệu này không có chú giải các h́nh ảnh trên chẳng hạn như địa điểm, năm h́nh được chụp,năm thành lập quân trường …Xin các bực thức giả bổ túc thêm. Xin đa tạ.
Để cho bài này được đầy đủ, TM xin tŕnh bày trong phần Phụ đề dưới đây lược sử thành lập Lực Lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân- Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa .
Phụ đề : Địa Phương Quân và Nghĩa Quân
Theo tài liệu [2] : Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa không chỉ có Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Không Quân, Lực Lượng Đặc Biệt...v...v..… là thành phần " Đánh giặc lâu dài cho non nước b́nh yên ". C̣n có các lực lượng Địa Phương Quân & Nghĩa Quân cũng đánh giặc oai hùng không kém, họ c̣n phải gánh chịu biết bao thiệt tḥi hơn các binh chủng khác về lương hướng, đạn dược, yểm trợ….đó là những người lính: " Đồn xa tôi ở, chốn quân thù ngày đêm có mặt ‘’.
Người lính làng đă giữ ǵn thôn xóm từ thời Đệ Nhất Cộng Ḥa với anh dân vệ, bảo an và sau là này là Địa Phương Quân & Nghĩa Quân .

H́nh lính Địa Phương Quân & Nghĩa Quân (?) trích từ tài liệu [2]
Hơn nửa theo tài liệu [3] : Địa Phương Quân, cái tên nghe khiêm nhường và hiền lành như đất, như bộ đồ xanh bạc màu của các anh. Địa Phương Quân, thứ lính… âm thầm nhất trong các thứ lính của quân lực; không màu mè, không áo rằn ri, không có những huyền thoại khủng khiếp, không “truyền thống, binh chủng” .

H́nh lính Địa Phương Quân & Nghĩa Quân (?) trích từ tài liệu [4] & [5]
Theo tài liệu [4] & [5] :
Địa Phương Quân và Nghĩa Quân (danh xưng ban đầu là Bảo An và Dân Vệ), (tiếng Anh: Regional Forces and Popular Forces, Rough Puffs / PF's), hay Tiểu Đoàn Địa Phương Quân (tiếng Anh: Regional Forces Battalion, RFB) là Lực lượng tự vệ và chiến đấu được vũ trang gần bằng các đơn vị Chủ lực, trực thuộc các Tiểu khu (Tỉnh) của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, hoạt động ở khu vực nội, ngoại thành và nông thôn trong suốt cuộc chiến.

Phù hiệu Dân Vệ Đoàn -H́nh t́m thấy trên mạng
Cờ Bảo Quốc An Dân , của Địa Phương Quân & Nghĩa Quân - H́nh trích từ tài liệu [4] & [5]
Khẩu
hiệu : Bảo quốc - An dân
Một tấc không đi - Một ly không rời


Huy hiệu
Địa Phương Quân - Huy hiệu Nghĩa Quân -H́nh
trích từ tài liệu [1] & [3]
Thánh Tổ Lực Lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân là vua Lê Lợi
Lịch sử h́nh thành
A-Địa Phương Quân:
Bảo An Đoàn được thành lập năm 1955 trên cơ sở thống nhất các Lực lượng cảnh bị cũ ở các Phần hoặc Miền: Bảo Chính Đoàn ở Bắc Việt, Nghĩa Dũng Đoàn ở Trung Việt, Việt Binh Đoàn ở Nam Việt của Quốc Gia Việt Nam, thu nạp thêm một bộ phận các tín đồ Thiên Chúa giáo Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Trong thời gian từ ngày 8 tháng 4 năm 1955, Lực lượng Bảo An Đoàn trực thuộc Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Ḥa .
Bảo An và Dân Vệ là chiến sĩ làm nhiệm vụ Cảnh sát Hành chính ở miền Nam Việt Nam, hoạt động giữ ǵn trật tự trị an ở từng địa phương (bao gồm nông thôn, thành thị, đồng bằng, cao nguyên, sông ng̣i và hải đảo). Tổ chức đầu tiên là Nha Tổng giám đốc Bảo an (Tổng Nha ?) gồm có nhiều Sở. Mỗi Phần hoặc Miền tổ chức một Nha. Mỗi tỉnh có một Tỉnh Đoàn Bảo An.
Đến ngày 19 tháng 11 năm 1955, Bảo An Đoàn trực thuộc Phủ Tổng Thống. Tháng 11 năm 1960, chuyển sang trực thuộc Bộ Quốc Pḥng.
Ngày 01 tháng 5 năm 1964 (1960 theo đoạn văn trên ), Bảo An Đoàn được chuyển sang trực thuộc Bộ Quốc Pḥng Việt Nam Cộng Ḥa, đổi tên thành Địa Phương Quân và tổ chức thành các Đại đội (khoảng 100 người).
Cùng thời điểm Nha Tổng giám đốc Bảo an đổi tên thành Bộ Chỉ Huy Trung Ương, sau đó là Bộ Tư Lệnh Địa Phương Quân và Nghĩa Quân.
Từ đây, Địa Phương Quân và Nghĩa Quân trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, hoạt động trên các Quân khu và dưới quyền điều động trực tiếp của các Tiểu khu, Chi khu (Quận). Các Đại đội được nâng lên cấp Tiểu đoàn, rồi Liên đoàn.
Địa Phương Quân có nhiệm vụ :
Ø Tảo thanh, tiêu diệt các đơn vị du kích và bộ đội địa phương của cộng quân tại khu vực trách nhiệm;
Ø Hỗ trợ giữ an ninh làng, xă;
Ø Ngăn chặn các trục giao liên, vận chuyển của việt cộng;
Ø Phá vỡ các cơ sở địa phương và cơ cấu kinh tài của việt cộng .
B. Nghĩa Quân:
Tiền thân của Nghĩa Quân là Dân Vệ Đoàn được thành lập để thay thế các Tự Vệ Hương Thôn và bảo vệ an ninh xă, ấp.
Tổ chức Dân Vệ thành một Nha Trung ương rồi xuống Khu Thanh Tra Dân vệ, Pḥng Dân Vệ Tỉnh, Pḥng Dân Vệ Quận và Xă Đoàn Dân Vệ. Về sau trực thuộc Nha Tổng Giám đốc Bảo An.
Ngày 12 tháng 5 năm 1964, Dân Vệ Đoàn đổi tên thành Nghĩa Quân. Tổ chức đến cấp Trung đội và Liên Trung đội. Nhiệm vụ chính hoạt động trong phạm vi cấp Chi khu (Quận), Phân chi khu (Xă).
Cơ cấu Tổ chức
Địa Phương Quân trực thuộc các Tiểu khu, nên tùy t́nh h́nh, phương tiện và nhân sự địa phương, cách tổ chức có thể được các Tiểu khu linh động thay đổi nên khác nhau ít nhiều. Chức vụ cao nhất là Tiểu đoàn trưởng, thường là cấp Đại úy hoặc Thiếu tá. Sau tổ chức thêm cấp Liên đoàn (hoặc Bộ chỉ huy Chiến thuật), chỉ huy thường là cấp Trung tá với chức danh: Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Chiến thuật hoặc Liên đoàn trưởng.
Trong Bộ chỉ huy Tiểu đoàn có Sĩ quan Trợ y, thuộc cấp số đơn vị, có đơn vị gia binh trong Hậu cứ. Mỗi Đại đội có một Hạ sĩ quan làm Y tá Đại đội. Sĩ quan Pháo binh không thuộc cấp số đơn vị, chỉ khi nào Tiểu đoàn đi hành quân, sĩ quan Pháo binh mới có mặt với hiệu thính viên riêng để liên lạc trực tiếp với Pháo binh yểm trợ. Hành quân xong, ông ta trở về căn cứ Pháo binh. Trong trường hợp cần yểm trợ bằng Không quân, Tiểu đoàn phải liên lạc qua Tiểu khu, và Tiểu khu liên lạc với Căn cứ Không quân.
Mỗi Tiểu đoàn có năm Đại đội, gồm bốn Đại đội tác chiến và một Đại đội chỉ huy. Mỗi Đại đội có bốn Trung đội, gồm một Trung đội đại liên (vũ khí nặng) và ba Trung đội vũ khí nhẹ. Quân số mỗi Đại đội, trên cấp số là 108 người, nhưng trên thực tế có mặt ngoài chiến trường chỉ vào khoảng 60 đến 70 người. Số c̣n lại nghỉ bệnh, đi phép, hoặc bị thương, tử trận chưa kịp bổ sung. Quân số hành quân của Tiểu đoàn trung b́nh khoảng 300.
Địa phương quân không có ban truyền tin riêng, nhưng máy PRC-25 được trang bị đầy đủ, do chính các binh sĩ trong Tiểu đoàn đảm trách.
Mỗi Tiểu khu có một số Tiểu đoàn lưu động, một số có hậu cứ, số c̣n lại sau những ngày hành quân, kéo ra đóng dài theo các trục lộ, vừa dưỡng quân vừa giữ an ninh khu vực. Các Tiểu đoàn cố định khác chịu trách nhiệm hẳn một vùng, coi đồn, giữ cầu đường hay đóng chốt trên các trục chuyển quân của địch quân.
Trong thời gian từ 1968 đến 1972, lực lượng Địa Phương Quân phát triển mạnh từ 895 lên 1.823 đại đội,tương ứng với số quân 132.000 lên 301.000.
Cuối 1972, một số đại đội Địa Phương Quân được gộp lại thành tiểu đoàn. Phần lớn các đồn lớn là của Địa Phương Quân, do tiểu khu và chi khu điều khiển, đóng trong vùng an ninh, giữ cầu, bảo vệ các cơ sở hành chính. Tại đây, binh lính được ra vào thoải mái, chỉ thỉnh thoảng mới phải hành quân dă trại, hoặc tổ chức phục kích quanh đồn ban đêm.
Các đồn nhỏ do phân chi khu (xă), giao cho Nghĩa Quân phụ trách. Bộ chỉ huy Quận hay c̣n gọi là Chi Khu thông thường do lực lượng Nghĩa Quân bảo vệ.
Theo tài liệu [6] : Từ sau hiệp định Paris 1973,lực lượng Địa Phương Quân & Nghĩa Quân đă được tổ chức và phối trí lại để phù hợp với hoàn cảnh mới. Quyền chỉ huy trực tiếp thuộc tiểu khu, chi khu và các phân chi khu.Quân sồ cũng được cải tổ từ cấp đại đội thành tiểu đoàn , liên đội và liên đoàn.
Tính đến năm 1973, quân lực Việt Nam Cộng Ḥa đă có tới 360 tiểu đoàn Địa Phương Quân ,quân số từ binh sĩ,hạ sĩ quan tới sĩ quan một số là chủ lực quân biệt phái,nên có rất nhiều kinh nghiệm chiến đấu, có đủ khả năng thay thế các sư đoàn bộ binh kể các lực lượng tổng trừ bị trong cá cuộc hành quân cơ động quy ước chiến, đáp ứng sự hổ trợ đắc lực cho cá đơn vị chính quy, Theo tài liệu từ quân sử, cho tới tháng 4-1975 , lực lượng Địa Phương Quân & Nghĩa Quân gần 500.000 người .
Chi khu trưởng và ban tham mưu chi khu là những cấp chỉ huy xuất sắc của Chủ Lực Quân đưa sang nên họ đă huấn luyện,hướng dẩn các đơn vị Địa Phương Quân & Nghĩa
Quân những phương thức hữu hiệu để tiêu diệt việt cộng mà họ đă có được kinh nghiệm khi c̣n chỉ huy các đại đơn vị tinh nhuệ như Nhảy Dù, Biệt Động, Thủy Quân Lục Chiến v.v… Do đó có nhiều trung đội Nghĩa Quân đánh giặc hữu hiệu không thua ǵ các đơn vị chủ lực. Chính hai thành phần này mới là những người bám rễ giữ đất, chịu nhiều gian khổ và thương vong nhất trong cuộc chiến bảo vệ lănh thổ.
Theo tài liệu [6] : Dưới quyền chỉ huy và nhào nặn của Chuẩn Tướng Nguyễn Duy Hinh, lực lượng Địa Phương Quân & Nghĩa Quân phát triển và lớn mạnh mau lẹ, lập được nhiều thành tích, ổn định t́nh h́nh an ninh vùng châu thổ Cửu Long.
Sau đây là danh sách các vị chỉ huy qua từng thời kỳ trích từ tài liệu [4]
Họ và Tên Cấp bậc Chức vụ Tại chức Chú thích
1 Tôn Thất Trạch Đốc phủ sứ Tổng Giám đốc Bảo an 1955-1956
2 Trần Tử Oai
Vơ bị Tông Sơn Tây Thiếu tướng Tổng
Giám đốc Bảo an 1956-1957 Giải
ngũ năm 65
3 Lê Khương Đại tá Tổng Giám đốc Bảo an 1957-1959 Giải ngũ ở cấp Đại tá
4 Đặng
Văn Quang
Vơ bị Huế K1 Trung tá Tổng Giám đốc
Bảo an 1959-1960 Sau cùng là Trung tướng Cố
vấn An ninh Quốc gia
5 Lâm Văn Phát
Vơ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt Đại tá Tổng
Giám đốc Bảo an 1960-1961 Giải ngũ
1965 ở cấp Thiếu tướng. Ngày 29/4/1975 tái
ngũ được thăng cấp Trung tướng giữ
chức vụ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô
6 Dương Ngọc
Lắm
Vơ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt Đại tá Tổng
Giám đốc Bảo an 1961-1964 Giải ngũ
năm 1964 ở cấp Thiếu tướng
7 Trần Ngọc Tám
Vơ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt Trung tướng Tư
lệnh ĐPQ & NQ 1964-1965 Giải
ngũ năm 1974
8 Trương Văn Xương
Nội ứng Nghĩa đinh
Cái Vồn Đại tá Chỉ huy
trưởng ĐPQ & NQ 1965-1966 Nguyên
là sĩ quan của Quân đội giáo phái Cao Đài, bắt
đầu phục vụ Quân đội Quốc gia trong
Quân đội Liên hiệp Pháp từ năm 1949. Giải
ngũ cùng cấp.
9 Hoàng Gia Cầu
Vơ bị Móng Cái Đại tá Chỉ huy trưởng
ĐPQ & NQ 1966-1968 Là
con trai Đại tá Ṿng A Sáng
(cựu Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh)
10 Nguyễn Văn Là
Vơ bị Tông Sơn Tây Trung tướng Tư lệnh
ĐPQ & NQ 1968-1972 Kiêm
Tổng tham mưu phó Bộ Tổng tham mưu
11 Nguyễn Văn Mạnh
Vơ bị Huế K1 Trung tướng Tư
lệnh ĐPQ & NQ 1972-1975 Kiêm Tổng
tham mưu phó Bộ Tổng tham mưu
(Phụ chú : Danh sách trên không có tên Chuẩn Tướng Nguyễn Duy Hinh) .
Theo tài liệu [3] : Lính Nghĩa Quân ở các quận nói chung rất gan dạ, chiến đấu trường kỳ (ngày đêm) không hề than van. Họ có ưu diểm sống gần nhà, gần quê quán nên không dám làm ǵ sai quấy sợ bà con chê cười. Người lính Địa Phương Quân & Nghĩa Quân rất sợ mất ḷng dân nên họ giữ ǵn kỷ luật rất giỏi.
(Phụ chú : Trận địa của người lính Địa Phương Quân & Nghĩa Quân thường là tại làng xóm nơi họ và gia đ́nh sinh sống ).
Đây chỉ là nhận xét chung chung, không có ư so sánh với các binh chủng đàn anh. Bởi v́ các trận đánh lớn binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân v.v… xứng đáng bậc đàn anh vang lừng trong quân sử c̣n Địa Phương Quân & Nghĩa Quân chỉ sở trường những trận nhỏ không tên mà thôi.
Đại tướng Creighton Abrams , một chỉ huy quân sự nổi tiếng của Lục quân Hoa Kỳ, nổi bật qua vai tṛ lănh đạo lực lượng thiết giáp trong Thế chiến thứ hai và Tư lệnh quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1968-972, nói: “Các Lực Lượng Địa Phưong, các con sóc ấy tiến tới rất vững vàng. Một t́nh trạng đă được duy tŕ lâu nay là Địa Phương Quân & Nghĩa Quân đă gánh chịu phần lớn trách nhiệm chiến tranh”. Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đă lần hồi gỡ bỏ mặc cảm của một phụ lực quân để trở thành các binh sĩ chính quy và là một bộ phận chính của bộ máy chiến tranh !
Các sĩ quan cao cấp Việt Nam cũng nh́n nhận như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng :
“Các Địa Phương Quân & Nghĩa Quân tăng tiến về phẩm cũng như lượng và đă được các nhân vật b́nh luận khắt khe như Tướng Julian Ewell khen tặng: “Họ là mũi nhọn trên chiến trường”!
Sở trường của Địa Phương Quân & Nghĩa Quân là đánh du kích, là triệt tiêu hạ tầng cơ sở địch, trong chiến dịch Phượng Hoàng họ là binh chủng cung cấp tin tức t́nh báo nhiều nhất, chính xác nhất, đồng thời cũng là đơn vị trực tiếp triển khai hành quân, thanh lọc, phục kích để tiêu diệt du kích việt cộng và lực lượng địa phương huyện, xả của địch. V́ sống gần dân (Địa Phương Quân) trong dân (Nghĩa Quân ) nên họ nhận được nhiều tin tức t́nh báo quư giá, những báo cáo về sự thâm nhập của quân việt cộng vào trong xă ấp,những thói quen di chuyển của việt cộng nên các cuộc đột kích, phục kích của Địa Phương Quân & Nghĩa Quân rất dể thành công.
- Trong thế pḥng thủ đôi khi đối đầu với chủ lực cộng sản,các chiến sĩ Địa Phương Quân & Nghĩa Quân cũng đă đánh nhiều trận ngoạn mục bẻ gảy các cuộc tấn công bằng xe tăng có pháo binh yễm trợ cuả chủ lực cộng sản Bắc Việt.
-Trong công tác B́nh Định Phát Triển họ là thành phần xuất sắc góp phần trong các chính sách của Quốc Gia như rào ấp chiến lược, ấp tân sinh,luật Người Cày Có Ruộng v.v…
-Trong quốc sách Chiêu Hồi mà kết quả trên 200.000 cán binh việt cộng về hồi chánh để trở về với đại gia đ́nh Dân Tộc th́ Địa Phương Quân & Nghĩa Quân là có thành tích cao nhất trong việc kêu gọi cán binh việt cộng trở về với chính nghĩa quốc gia.
-Trong công cuộc chiến đấu băo vệ Miền Nam của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chống lại sự xâm lăng ồ ạt của quân chính quy cộng sản Bắc Việt cũng như sự phá rối trị an của du kích là việt cộng. Lực lượng Diện Địa bao gồm Điạ Phương Quân và Nghĩa Quân đăm nhận trọng trách lớn lao là bảo vệ làng, xă, thị xă, tỉnh lỵ, đô thị, trường học,cầu cống, quốc lộ, tỉnh lộ, trục lộ giao thông nông thôn, đường sắt, các công tŕnh quan trọng (như Đập Thủy Điện Đa Nhim, Nhà Đèn Chợ Quán v.v…)
Có bảo vệ an toàn nơi tuyến đầu là nông thôn th́ chốn hậu phương thành thị mới yên ổn để phát triển và xây dựng, thất bại ở nông thôn là mất hậu cứ căn bản sẽ bị cộng sản bao vâyvà khủng bố. Chúng ta thử nghĩ hậu cứ của các đại đơn vị cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tại thủ đô Sài G̣n, Huế, Cần Thơ v.v… sẽ ra sao nếu không có vành đai nông thôn do lực lượng Địa Phương Quân & Nghĩa Quân băo vệ an toàn bao bọc.
Ngoài ra hàng ngàn công tŕnh xây dựng của Quốc Gia sẽ ra sao nếu không có sự băo vệ ngày đêm của lực lượng diện địa Địa Phương Quân & Nghĩa Quân để cho chủ lực quân rảnh tay hành quân lưu động tảo trừ quân chính quy cộng sản xâm nhập Miền Nam.Nhưng thật bất công cho họ trước 1975 ,báo chí Việt Nam Cộng Hoà gần như quên lảng họ, báo chí Hải Ngoại sau 1975 cũng vậy, xem họ như con ghẻ,hay nhẹ hơn là xem họ như những đơn vị thứ yếu trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà !!!
Theo tài liệu [5] : Do bởi những cuộc diệt trừ cộng phỉ nằm vùng rất hữu hiệu của Địa Phương Quân & Nghĩa Quân , bọn việt cộng xem họ là kẻ thù nguy hiểm nhất qua 2 câu vè tuyên truyền của việt cộng thời đó:
“Ngàn hai bắt được th́ tha.
Chín trăm bắt được đem ra chặt đầu”
(1200 đồng là lương hàng tháng của quân dịch Chủ lực quân,900 là lương của Dân Vệ/Nghĩa Quân) thực tế việt cộng chỉ tuyên truyền vậy thôi, thời kỳ chiến tranh 1945-1975 chúng bắt được ai th́ hầu hết đều bị thủ tiêu chớ làm ǵ có tha ai đâu.
Phiá việt cộng xem họ là kẻ thù nguy hiểm, nhưng báo chí Miền Nam Việt Nam thời đó cũng tỏ ra có nhiều ngộ nhận không ít về họ. Có báo th́ cho là lính ma, lính kiểng, có báo th́ cho là binh chủng lạc hậu và đặt tên là “Con Ruà chậm tiến” chỉ v́ họ không được trang bị hiện đại bằng các binh chủng khác,luôn luôn được trang bị chậm và thiếu các loại vũ khí tối tân như M16, M79 phóng lựu và thông thường phương tiện di chuyển hay hành quân họ thảy đều dùng đôi chân của ḿnh chớ không có phương tiện cơ hữu như quân xa, máy bay. Họ đánh giặc theo kiểu nhà nghèo. Lương th́ ít ỏi không đủ sống, v́ vậy đôi khi NQ c̣n được trợ cấp thực phẩm, có 2 câu thơ truyền miệng:
“Dân Vệ Đoàn v́ dân trừ bạo
Hai bao gạo một thùng dầu’’
(Chú thích: Gạo của Hoa Kỳ trợ cấp loại 10 kư / bao,dầu làloại dầu ăn hột cải 4 lít) .
Địa Phương Quân & Nghĩa Quân là lực lượng “Sinh sau đẻ muộn” của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà , có nhiều sở trường cũng như nhiều sở đoản,nhiệm vụ được giao th́ nặng nề,nhưng trang bị, yểm trợ lại yếu kém do đó có nơi th́ hoàn thành xuất sắc, có nơi th́ chỉ trung b́nh. Tuy nhiên qua những điều vừa phân tích có nhiều bất công đối với họ, kể cả những bất công chung của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị nhóm truyền thông bất lương bôi bẩn có mục đích thương mại và chính trị, bị đồng minh xem thường và phản bội, vậy phải trả lại “Công Đạo” cho họ. Họ là những anh hùng vô danh, không có ai cậy nhờ để phục hồi danh dự, nhưng họ cũng không xin xỏ vàl uôn ngẩng cao đầu mà đi v́ xét cho cùng họ đă đóng góp xương máu của ḿnh nhiều nhất cho Quốc Gia và Dân Tộc.
Theo tài liệu [5] : Trong cuộc chiến 1954-1975, Địa Phương Quân và Nghĩa Quân là những người chịu nhiều đau thương nhất, tổn thất cao nhất so với các binh chủng khác trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đồng thời họ chịu nhiều sĩ nhục từ phiá việt cộng.
Theo tài liệu [6] : Số tử vong Địa Phương Quân và Nghĩa Quân cũng nhiều lần so với các lực lượng chính quy,điều đó chứng tỏ sự chiến đấu dũng mảnh và can trường của họ.
Theo tài liệu [3] & [4] : Địa Phương Quân và Nghĩa Quân là lực lượng chịu nhiều thương vong trong chiến tranh Việt Nam, thương vong của lực lượng này chiếm 25% tổng số thương vong của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Theo tài liệu [3] : Các anh chiến sĩ Địa Phương Quân và Nghĩa Quân chính là những “Anh Hùng Vô Danh”. Tổ Quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam ngàn đời sẽ c̣n ghi ơn các anh. Xin vĩnh biệt và cảm tạ.
Tài liệu tham khảo :
1. https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/s%C6%B0u-t%E1%BA%A7m-bi%C3%AAn-kh%E1%BA%A3o/7939-%C4%91%E1%BB%8Ba-ph%C6%B0%C6%A1ng-qu%C3%A2n-qlvnch-trong-chi%E1%BA%BFn-tranh-gi%E1%BB%AF-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-1960-1975 Địa Phương Quân / QLVNCH trong chiến-tranh giữ nước 1960 – 1975 -01-08-2015 .
2. https://www.facebook.com/100066787387532/photos/-%C4%91%E1%BB%8Ba-ph%C6%B0%C6%A1ng-qu%C3%A2n-v%C3%A0-ngh%C4%A9a-qu%C3%A2n-trong-cu%E1%BB%99c-chi%E1%BA%BFn-vi%E1%BB%87t-nam-thi%E1%BB%87t-th%C3%B2i-nh%E1%BB%A9t-l%C3%A0-%C4%91%E1%BB%8Ba-/781511585286992/ Địa Phương Quân & Nghĩa Quân-13 janvier 2016.
3. https://bienxua.wordpress.com/2025/03/17/anhhung-vo-danh-dia-phuong-quan-va-nghia-quan-kd/ Anh Hùng Vô Danh Địa Phương Quân và Nghĩa Quân – KD-Posted by bienxua on March 17, 2025 .
4. https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%8Ba_ph%C6%B0%C6%A1ng_qu%C3%A2n_v%C3%A0_ngh%C4%A9a_qu%C3%A2n Địa Phương Quân và Nghĩa Quân .
5. https://www.namkyluctinh.org/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/long-dhien/dhia-phuong-quan-nghia-quan-cua-qlvnch.html Địa Phương Quân & Nghĩa Quân của QLVNCH .
6. Phạm Phong Dinh-Chiến Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà-Tủ Sách Vinh Danh-Tháng 8-2007.
45- Quân Trường Thất Sơn - Châu Đốc
Theo tài liệu [2] : Tại thị trấn Chi Lăng, tỉnh Châu Đốc có một Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Chi Lăng (c̣n gọi là Quân Trường Chi Lăng, Trại Biệt Kích Thất Sơn hoặc Sân bay Thất Sơn) thành lập năm 1966 để đào tạo quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa .
Và theo tài liệu [3] & [4] : Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng này v́ nằm gần núi Thất Sơn, nên c̣n gọi là Trung Tâm Huấn Luyện Thất Sơn.
Như vậy Quân Trường Thất Sơn và Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng có thể một ? .
Hơn nửa , cũng theo tài liệu [2] : Ban đầu, Biệt đội A-432 Liên Đoàn 5 Biệt Kích Mỹ sử dụng Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng này làm Trại Biệt Kích Thất Sơn.
Do đó ,Quân Trường Thất Sơn hay Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng cũng có thể là hậu thân của Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ở Thất Sơn thành lập năm 1960 và sát nhập với Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ở Trung Ḥa năm 1961 để thành lập Trung Tâm Trung Ḥa ở Củ Chi . Xem thêm chi tiết trong bài Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Trung Ḥa của cùng tác giả .
Những chi tiết khác về trường sở,năm thành lập, tổ chức ,chương trinh huấn luyện, khóa binh,thành quả… của Quân Trường Thất Sơn chưa được rơ. Xin các bực thức giả bổ túc thêm-Xin đa tạ .
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa.
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Hu%E1%BA%A5n_luy%E1%BB%87n_Qu%E1%BB%91c_gia_Chi_L%C4%83ng Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Chi Lăng .
3. https://www.facebook.com/media/set/?set=a.1990430837847177&type=3&comment_id=1990453904511537 Nguyễn Duy- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn KIếp.
4. https://bienxua.wordpress.com/2025/01/11/trung-tam-huan-luyen-quoc-gia-van-kiep-va-gio-thu-25-cua-toi-nguyen-van-xuyen/ Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp và Giờ ‘’Thứ 25’’ của Tôi-Nguyễn Vân Xuyên -Posted by bienxua on January 11,2025.
46- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Cao Lănh – Cao Lănh
Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Cao Lănh (TTHLQG Cao Lănh ) được kể ra như sau trong tài liệu [1] & [2] :
Trong kế hoạch hiện đại hóa Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Ḥa Cầm trực thuộc quyền điều động của Tổng Cục Quân Huấn,Bộ Tổng Tham Mưu, cùng với các Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia khác trên 4 Vùng Chiến Thuật :
5. Vùng 1 Chiến Thuật : TTHLQG Đống Đa ở Huế và TTHLQG Ḥa Cầm;
6. Vùng 2 Chiến Thuật :TTHLQG Lam Sơn ở Dục Mỹ, Ninh Ḥa, Khánh Ḥa (Nha Trang) và TTHLQG Phù Cát và TTHLQG Pleiku (Trường Sơn) ;
7. Vùng 3 Chiến Thuật : TTHLQG Quang Trung và TTHLQG Vạn Kiếp ;
8. Vùng 4 Chiến Thuật: TTHLQG Chi Lăng ở tỉnh lỵ Châu Đốc (gần núi Thất Sơn, nên c̣n gọi là TTHL Thất Sơn) và TTHLQG /Cao Lănh .
Điều đáng tiếc là hai tài liệu trên không có ghi chi tiết nào về Trung Tâm này .
Theo tài liệu [3] : Tại tỉnh Kiến Phong ,có Quân Trường Cao Lănh trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn-Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Quân Trường này có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo quân nhân địa phương cấp binh sĩ các Tiểu Khu thuộc Quân Khu 4 và huấn luyện bổ túc cho các đơn vị chủ lực của Quân Khu.
(Phụ chú : Theo tài liệu [4] : Năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, chính phủ đă thành lập tỉnh Kiến Phong, tỉnh lỵ đặt tại Cao Lănh, từ đó Cao Lănh tách rời khỏi tỉnh Sa Đéc.
Hơn nửa , theo tài liệu [5] : Cao Lănh trước năm 1975 được biết đến như một căn cứ quân sự với Trung Tâm Huấn Luyện Trần Quốc Toản đào tạo các tân binh.
Như vậy Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Cao Lănh và Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Cao Lănh có thể là một ?
Những chi tiết khác về trường sở,năm thành lập, tổ chức ,chương trinh huấn luyện, khóa binh,thành quả… của Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Cao Lănh chưa được rơ. Xin các bực thức giả bổ túc thêm-Xin đa tạ .
Tài liệu tham khảo :
1. https://www.facebook.com/media/set/?set=a.1990430837847177&type=3&comment_id=1990453904511537 Nguyễn Duy- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn KIếp.
2. https://bienxua.wordpress.com/2025/01/11/trung-tam-huan-luyen-quoc-gia-van-kiep-va-gio-thu-25-cua-toi-nguyen-van-xuyen/ Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp và Giờ ‘’Thứ 25’’ của Tôi-Nguyễn Vân Xuyên -Posted by bienxua on January 11,2025.
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa .
4. https://petruskyaus.net/tuyen-tap-bien-khao-nvt-cao-lanh-que-toi/ Cao Lănh, Quê Tôi -Nguyễn Vĩnh Thượng .
5. https://sadecflower.blogspot.com/2008/09/hnh-nh-cao-lnh-trc-nm-1975.html H́nh Ảnh Cao Lănh Trước Năm 1975 - 24 tháng 9, 2008 .
47- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Phù Cát -Phù Cát-Tỉnh B́nh Định
Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Phù Cát (TTHLQG Phù Cát ) được kể ra như sau trong tài liệu [1] & [2] :
Trong kế hoạch hiện đại hóa Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Ḥa Cầm trực thuộc quyền điều động của Tổng Cục Quân Huấn,Bộ Tổng Tham Mưu, cùng với các Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia khác trên 4 Vùng Chiến Thuật :
9. Vùng 1 Chiến Thuật : TTHLQG Đống Đa ở Huế và TTHLQG Ḥa Cầm;
10. Vùng 2 Chiến Thuật :TTHLQG Lam Sơn ở Dục Mỹ, Ninh Ḥa, Khánh Ḥa (Nha Trang) và TTHLQG Phù Cát và TTHLQG Pleiku (Trường Sơn) ;
11. Vùng 3 Chiến Thuật : TTHLQG Quang Trung và TTHLQG Vạn Kiếp ;
12. Vùng 4 Chiến Thuật: TTHLQG Chi Lăng ở tỉnh lỵ Châu Đốc (gần núi Thất Sơn, nên c̣n gọi là TTHL Thất Sơn) và TTHLQG /Cao Lănh .
Điều đáng tiếc là hai tài liệu trên không có ghi chi tiết nào về Trung Tâm này .
Theo tài liệu [3] : Quân Trường Phù Cát tọa lạc tại Phù Cát,tỉnh B́nh Định. Quân Trường này trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn-Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ,có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo quân nhân địa phương cấp binh sĩ các Tiểu Khu phía băc duyên hải thuộc Quân Khu 2 (Vùng 2 Chiến Thuật) và huấn luyện bổ túc cho các đơn vị chủ lực của Quân Khu này.
Ngoài các tài liệu kể trên, việc t́m kiếm trên mạng các tin tức về Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Phù Cát gần như không có kết quả Xin các bực thức giả bổ túc thêm. Xin đa tạ .
Tài liệu tham khảo :
1. https://www.facebook.com/media/set/?set=a.1990430837847177&type=3&comment_id=1990453904511537 Nguyễn Duy- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn KIếp.
2. https://bienxua.wordpress.com/2025/01/11/trung-tam-huan-luyen-quoc-gia-van-kiep-va-gio-thu-25-cua-toi-nguyen-van-xuyen/ Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp và Giờ ‘’Thứ 25’’ của Tôi -Nguyễn Vân Xuyên -Posted by bienxua on January 11,2025.
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa.
48- Trường Quân Nhu – Thủ Đức-Gia Định
Theo tài liệu [1] :
Trường Quân Nhu tọa lạc tại Yếu Khu Thủ Đức (Trường Bộ Binh Thủ Đức),tỉnh Gia Định. Tài liệu này không có ghi các chi tiết khác như năm thành lập, cũng như tổ chức, chương tŕnh giảng dạy, chỉ huy điều hành….V́ vậy, xin các bực thức giả bổ túc thêm. Xin đa tạ.
Trong tài liệu này Trung Úy Vũ Đ́nh Trung chỉ kể lại những giờ phút cuối cùng ‘’ Tử thủ Trường Quân Nhu ‘’ : Khoảng 11 giờ sáng ngày 29 Tháng Tư, 1975, Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Nhu điều động tất cả quân nhân cơ hữu và các anh em khóa sinh ra Vũ Đ́nh Trường với hào khí ngất trời. Ông ta giơ cánh tay lên tuyên bố, ‘Tử thủ tại trường đến cùng, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.’ Toán sĩ quan khóa sinh chúng tôi gồm hơn 50 người, mang 50 ống Hỏa Tiễn M72 chống chiến xa ra Vũ Đ́nh Trường. Nhưng khoảng hai tiếng sau th́ ông chỉ huy trưởng lái chiếc xe jeep chạy mất tiêu, kể cả ông chỉ huy phó cũng đi luôn, và các nhân viên cơ hữu ở trường Quân Nhu cũng không c̣n ai hết. V́ thế, anh em khóa sinh c̣n lại phải tự điều động để tử thủ.”
Trong t́nh thế nguy ngập này, tất cả sĩ quan khóa sinh chúng tôi bao gồm thiếu úy, trung úy và đại úy tổng cộng chỉ có 50 quân nhân. Các anh em khóa sinh c̣n lại tự bầu chỉ định để chọn người chỉ huy trong toán tử thủ tại Trường Quân Nhu. Sau đó, chúng tôi chia ra làm hai toán: Trưởng toán cánh A, do một Trung Úy Nhảy Dù phụ trách 25 ống M72, án ngữ hàng ngang tại cổng số 9 đường ra băi tập. Tôi th́ làm trưởng toán cánh B phụ trách 25 ống M72 chống chiến xa nằm dưới giao thông hào Trường Bộ Binh Thủ Đức.
Sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi ăn sáng và cà phê xong, Trung Úy Trung yêu cầu tập họp anh em lại và chia làm tám tổ, mỗi tổ ba người. Ông giải thích với các chiến hữu sơ qua về súng chống chiến xa M72 và yêu cầu khi nhắm bắn, xạ thủ phải nhắm vào mắt xích của xe tăng địch th́ mới được hiệu quả. Đồng thời hai người phụ xạ thủ phải chú ư xem không có ai ở phía sau của ống phóng M72, v́ sợ sức tống đàn hồi của loại súng này khi tác xạ, để tránh sự hậu quả cho người đang ở phía sau của M72 đang kích hoạt.
Sau đó ông bước vào nhà bàn nói chuyện với hai Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 1/75, th́ Thiếu Úy Tiền Quốc Cơ, bạn của ông Trung chạy vào la lên, ‘Trung mày ra điều động anh em, v́ xe tăng việt cộng vô tới nơi rồi.’ Ông Trung liền chạy ra ngoài, th́ thấy xe tăng việt cộng vừa tới bắn xối xả vào hai bên đường. Ông vừa kịp nhảy xuống giao thông hào vừa nói lớn: “Anh em hăy bắn vào mắt xích của chiến xa địch.”
Chuẩn Úy Tiến bắn phát đầu tiên vào mắt xích xe tăng địch, nhưng không cháy. Liền sau đó, phát thứ hai không biết ai bắn cũng trúng vào mắt xích xe tăng địch, bị rung lên nghiêng qua bên trái và nằm bất động.
Sau đó, tôi nh́n sang hướng nhà bàn th́ thấy hai cây khuynh diệp trước cửa nhà bàn bị bắn nát bấy, và nhà bàn cũng bị mấy chục vết đạn. Lúc đó th́ hai anh SVSQ Khóa 1/75 Thủ Đức bị tử trận, c̣n tôi may mắn được thoát chết lần nữa.
Trong lúc tôi và các anh em đang bàng hoàng th́ tôi nghe tiếng có một quân nhân đang đứng sau gọi. Quay đầu lại th́ tôi mới biết người quân nhân này là Trần Văn Quư, chú em con của bà cô ruột của tôi, và cũng là SVSQ Khóa 31 Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam chưa ra trường. Nhưng v́ quân trường Vơ Bị đă di tản về Yếu Khu Thủ Đức, th́ gặp lúc việt cộng đang tấn công vào trường Quân Nhu, và cùng lúc gặp tôi và các chiến hữu đang chiến đấu với việt cộng
Sau đó, t́nh h́nh cũng tạm yên ổn, v́ địch không tấn công trường Quân Nhu nữa.
Thừa dịp t́nh h́nh tạm yên ổn, ông Trung và Quư vào quán cơm của Đại Úy Tuấn, sĩ quan huấn luyện viên Khoa Chiến Thuật để dùng cơm. Vừa cầm chén cơm chưa kịp ăn, th́ nghe trên radio ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng!
Ông Trung tâm sự: “Tôi bàng hoàng uất nghẹn và bỏ chén cơm xuống, v́ không c̣n ăn được nữa. Tôi vội vă trả tiền, nhưng chủ quán không lấy tiền. Sau đó, tôi bảo Quư về pḥng soạn đồ, rồi khoảng 15 phút sau, hai anh em gặp nhau tại sân Vũ Đ́nh Trường của trường Quân Nhu.”
Về tới pḥng ngủ, các sĩ quan cũng đang vội vă thu xếp đồ đạc cá nhân. Tôi nói mọi người hăy tháo kim hỏa súng ra vứt đi. Khi tôi ra tới Vũ Đ́nh Trường th́ đă thấy Quư đang chờ tôi. Chúng tôi vừa đi chừng 10 bước th́ bổng sau lưng chúng tôi có ba tên bộ đội cộng sản, dạng tuổi chừng 16-17, hét lớn, ‘Lột lon xuống, tụi mầy thua rồi c̣n mang cấp bậc ǵ nữa chớ.’ Tôi gở bỏ hai bông mai trên cổ áo ra. Quư th́ bỏ ‘bê-rê’ có phù hiệu ‘Tự thắng để chỉ huy’ miệng c̣n lẩm bẩm như muốn khóc, nói: ‘Không c̣n lư tưởng ǵ nữa!’”
Sau đó mấy tên bộ đội cũng bỏ đi nơi khác để thu lượm tài sản của trường Quân Nhu. Lợi dụng lúc việt cộng không để ư đến hai người, Trung Úy Vũ Đ́nh Trung và Quư leo hàng rào để rời khỏi trường Quân Nhu. Trước khi rời khỏi trường, họ quay đầu lại thấy Đại Tá Trần Đức Minh, Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của Trường Bộ Binh Thủ Đức đang chỉ chỏ bàn giao quân trường Bộ Binh Thủ Đức cho bộ đội cộng sản Bắc Việt (Sic) .
Ông Trung bùi ngùi nói: “Thế là hết! Lịch sử đă sang trang. Tôi đứng bất động, ḷng buồn bă không sao diễn tả được. Tôi đứng nghiêm chào tay lần cuối quân trường Bộ Binh Thủ Đức, nơi đă ghi dấu ấn đầu đời quân ngũ của tôi và bao thế hệ thanh niên trí thức đă hiến dâng cả một thời trai trẻ cho quê hương đất nước.”
Ông Vũ Đ́nh Trung bị ngụy quyền cộng sản giam cầm trong các trại tập trung, đến tháng 11 năm 1978 ông được ra tù. Năm 1980, ông vượt biên bằng đường biển đến Thái Lan. Cuối Tháng Giêng, 1981 ông được định cư tại Hoa Kỳ. Hiện giờ gia đ́nh ông Vũ Đ́nh Trung đang cư ngụ tại Santa Ana, California.
Tài liệu tham khảo :
1. https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/vu-dinh-trung-tu-thu-truong-quan-nhu-den-ngay-30-thang-tu-1975/ Vũ Đ́nh Trung, tử thủ trường Quân Nhu đến ngày 30 Tháng Tư, 1975- Lâm Hoài Thạch/Người Việt-Modified date: June 6, 2026.
49- Trường Tiếp Vận- Gia Định
Theo tài liệu [1] : Trường Tiếp Vận tọa lạc tại tỉnh Gia Định,trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Trường này có nhiệm vụ huấn luyện nhiều lănh vực chuyên môn trong ngành Tiếp Vận.
Ngoài tài liệu [1] này , trên mạng , tin tức về Trường Tiếp Vận như địa điểm, năm thành lập, tổ chức, chương tŕnh huấn luyện… gần như không có, xin các bực thức giả bổ túc thêm. Xin đa tạ.
Để hiểu biết thêm về nghành Tiếp Vận , xin ghi thêm sau đây sơ lược thành lập Tổng Cục Tiếp Vận trích từ tài liệu [2]
Quân Kỳ Tổng Cục Tiếp Vận – H́nh trích từ tài liệu [2]
Khẩu hiệu của Tổng Cục Tiếp Vận : Hữu Hiệu - Tiết Kiệm
Tổng cục Tiếp Vận trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, là một ngành có nhiệm vụ quản lư tất cả chiến cụ, quân trang, quân dụng, phương tiện vận chuyển, vật tư tổng hợp v.v... trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Từ đó, tiếp nhận quân viện và điều hành phân phối theo nhu cầu, theo thời hạn đến tất cả các Quân, Binh chủng trong Quân lực. Bộ chỉ huy nằm trong Bộ Tổng Tham Mưu. Tổng Cục Trưởng đồng thời kiêm luôn chức vụ Tham Mưu Phó Tiếp Vận Liên Quân, sau đổi là Tham Mưu Phó Tiếp Vận Bộ Tổng Tham Mưu. Tổng Cục chia ra thành nhiều đơn vị nhỏ và theo hệ thống hàng dọc để việc điều hành và phân phối được nhanh gọn hơn.
Từ thượng tuần tháng 11 năm 1964 trở về trước, các cơ cấu tiếp vận đều thuộc quyền điều động của Pḥng 4 Bộ Tổng Tham mưu.
Khuôn khổ này không đáp ứng với thực tại chiến trường đă biến đổi từ du kích chiến sang chiến tranh quy ước. Chiến trường đă mở rộng hàng chục cây số với sự tham chiến của nhiều Sư đoàn cơ giới, đại pháo, chiến xa yểm trợ.
Ngày 16 tháng 11 năm 1964, Tổng Cục Tiếp vận được thành lập để thay thế Pḥng 4 Bộ Tổng Tham mưu trong nhiệm vụ kết hợp 8 Cục Tiếp vận, điều hoà 5 Vùng Tiếp vận được chỉ huy bởi các Bộ Chỉ huy Tiếp vận, phối trí đều khắp 4 Quân khu như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang (về sau là Cam Ranh), Sài G̣n, Cần Thơ và yểm trợ tiếp vận về quân dụng chung luôn cho 2 Quân chủng Hải và Không quân.
Trước tháng 11 năm 1964 quân số ngành Tiếp vận có khoảng 50.000 người. Sau khi thành lập Tổng Cục và mở rộng quy chế đă tăng lên đến 153.000 người (duy tŕ tới tháng 4 năm 1975), trong đó 19.000 người thuộc Tiếp Vận Không Quân và 11.000 người thuộc Tiếp Vận Hải Quân.
Nhiệm vụ của những sĩ quan, binh sĩ trong ngành Tiếp Vận rất nặng nề và gian truân. Tuy nhiên, họ vẫn luôn làm đúng chức năng và tṛn trách nhiệm của ḿnh, luôn kịp thời mỗi khi yểm trợ tiếp vận trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả có phải băng qua vùng chiến trận bom đạn.
Tổng Cục Trưởng qua các thời kỳ
1 Bùi Hữu Nhơn -Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông Đà Lạt K1-Chuẩn tướng-Tại chức : 1964-1966-Giải ngũ năm 1968 ở cấp Thiếu Tướng ;
2 Đào Ngọc Thọ-Vơ Khoa Thủ Đức K1-Đại tá- Tại chức :1966-1967;
3 Đồng Văn Khuyên- Đại tá- Tại chức : 1967-1975;
4 Nguyễn Văn Chức-Vơ Bị Địa Phương Nam Việt Vũng Tàu K2-Chuẩn Tướng- Tại chức : 29-30/4/1975 thay thế Trung Tướng Khuyên đă rời bỏ nhiệm sở.
Bộ Chỉ Huy Tổng Cục tháng 4/1975
1 Đồng Văn Khuyên-Vơ Khoa Thủ Đức K1-Trung TướngTổng Cục Trưởng kiêm Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu ;
2 Phạm Kỳ Loan-Vơ Khoa Thủ Đức K1-Đại Tá-Tổng Cục Phó;
3 Phạm Bá Hoa-Vơ Khoa Thủ Đức K5-Tham Mưu Trưởng.
Đơn vị trực thuộc Tổng Cục tháng 4/1975
1 Cục Quân Y-Phạm Hà Thanh-Đại học Quân Y Hà Nội-Chuẩn Tướng-Cục Trưởng;
2 Cục Công Binh-Nguyễn Văn Chức-Vơ Bị Địa Phương Nam Việt Vũng Tàu K2- Chuẩn Tướng-Cục Trưởng-Ngày 29/4/1975, Tướng Khuyên di tản, Tướng Chức đảm nhiệm chức vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Đại Tá Nguyễn Thiện Nghị thay thế chức vụ Cục trưởng Cục Công Binh ;
3 Cục Truyền Tin-Bùi Trọng Huỳnh-Vơ Khoa Nam Định-Đại Tá- Cục Trưởng;
4 Cục Quân Nhu-Đỗ Trọng Cương-Vơ Bị Đà Lạt K7-Đại Tá- Cục Trưởng. Xem thêm chi tiết trong Phụ đề 1 dưới đây ;
5 Cục Quân Cụ-Từ Nguyên Quang-Vơ Bị Đà Lạt K3-Đại Tá- Cục Trưởng;
6 Cục Quân Vận-Nguyễn Tử Khanh-Vơ Khoa Thủ Đức K1- Đại Tá- Cục Trưởng;
7 Cục Quân Tiếp Vụ-Tô Đăng Ma-Vơ Khoa Thủ Đức K1-Đại Tá- Cục Trưởng;
8 Cục Măi Dịch-Nguyễn Hữu Điền-Vơ Khoa Thủ Đức K1- Đại Tá- Cục Trưởng;
9 Lục Quân Công Xưởng-Huỳnh Thu Toàn-Vơ Bị Đà Lạt K3- Đại Tá-Chỉ Huy Trưởng;
10 Tổng Kho Long B́nh-Trương Đ́nh Liệu-Vơ Bị Đà Lạt K8- Đại Tá-Chỉ Huy Trưởng. Xem thêm chi tiết trong Phụ đề 2 dưới đây ;
11 Trung Tâm Điện Toán-Nguyễn Thành Huê-Vơ Khoa Thủ Đức- Đại Tá-Chỉ Huy Trưởng.
Xem thêm chi tiết trong Phụ đề 3 dưới đây;
12 Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 1(?) -Ngô Minh Châu-Vơ Khoa Thủ Đức K4-Đại Tá-Chỉ Huy Trưởng- Bộ chỉ huy đặt tại Đà Nẵng;
13 Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 2-Phạm Thanh Nghị-Vơ Khoa Nam Định-Đại Tá-Chỉ Huy Trưởng-Bộ chỉ huy ban đầu đặt tại Quy Nhơn, sau chuyển về Nha Trang;
14 Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 3-Trần Quốc Khang-Vơ Khoa Nam Định-Đại Tá-Chỉ Huy Trưởng-Bộ chỉ huy đặt tại Biên Hoà;
15 Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 4-Nguyễn Văn Nhỏ-Vơ Bị Huế K1-Đại Tá-Chỉ Huy Trưởng-Bộ chỉ huy đặt tại Cần Thơ;
16 Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 5-Mai Duy Thưởng-Vơ Khoa Nam Định- Đại Tá -Chỉ Huy Trưởng-Bộ chỉ huy đặt tại Cam Ranh (Đại Tá Mai Duy Thưởng kiêm Quân Trấn Trưởng Cam Ranh) .
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa Trường Tiếp Vận .
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_c%E1%BB%A5c_Ti%E1%BA%BFp_v%E1%BA%ADn,_B%E1%BB%99_T%E1%BB%95ng_tham_m%C6%B0u_Qu%C3%A2n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Tổng Cục Tiếp vận, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa .
Phụ đề 1 : Cục Quân Nhu
Theo tài liệu [1] :
Quân Nhu là một đơn vị chuyên ngành trực thuộc sự điều hành của Tổng Cục Tiếp vận và dưới quyền điều động của Bộ Tổng Tham Mưu trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Ngành Quân Nhu có trách nhiệm hỗ trợ trong quân đội với nhiệm vụ điều phối, cung ứng thực phẩm, nhu yếu phẩm, quân trang, quân dụng, nhiên liệu v.v… đến tất cả các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Cuối năm 1951, ở thời kỳ sơ khai của Quân Đội Quốc Gia, Ngành Quân Nhu phát triển với sự thành lập Đoàn Sĩ Quan Quân Nhu Quân Đội Việt Nam và các cơ sở Quân Nhu Địa phương. Trong thời kỳ đầu, Ngành c̣n thiếu thốn về mặt nhân sự có tŕnh độ chuyên môn, nhất là các cấp chỉ huy. Do đó, các sĩ quan chỉ huy trong ngành lần lượt được cử sang Pháp tu nghiệp. Mặt khác, huấn luyện bổ túc nghiệp vụ cũng như đào tạo tại chỗ cho các hạ sĩ quan và binh sĩ của ngành dưới sự chỉ đạo và cố vấn của các sĩ quan, hạ sĩ quan người Pháp.
Sau Hiệp định Genève (20-7-1954), một số sĩ quan tu nghiệp ở Pháp trở về, lần lượt được giao trách nhiệm chỉ huy và điều hành ngành Quân nhu, đứng đầu ngành với chức danh Giám đốc. Trước đó cho đến đầu năm 1953, các Kho quân nhu cũng lần lượt được thành lập.
A- Hoạt động của nghành được cải tổ và thực hiện như sau :
- Từ đầu năm 1956 đến cuối năm 1958, ngành Quân nhu Việt Nam hoạt động với nhân sự người Việt nhưng theo tổ chức của Pháp. Thời gian này ngành được đặt danh hiệu là Nha Quân Nhu (1957).
-Từ đầu năm 1959 đến 1975, ngành Quân Nhu hoạt động và điều hành theo phương thức của Hoa Kỳ.
Năm 1964, danh hiệu Nha Quân Nhu được cải danh thành Cục Quân Nhu, đứng đầu với chức danh Cục trưởng.
Đến năm 1967, Cục Quân Nhu lập thêm 1 cơ sở Kỹ Thuật Bảo Toàn, 1 Pḥng Tổ chức và Pḥng Nông Mục .
B- Nhiệm vụ chính của Cục Quân Nhu ở giai đoạn sau cùng :
· Đảm trách và điều phối nhiên liệu;
· Sản xuất quân trang,quân dụng;
Dựa theo tài liệu [2] & [ 3] : Quân Nhu và Quân Trang của Cục Quân Nhu nằm gần Căn Cứ 80 Tân Trang Quân Cụ (c̣n có tên là Trại Quân Cụ Đoàn Dư Khương )- G̣ Vấp và Thành Cổ Loa, Khu Thiết Giáp Kho Đạn và Trại Quân Khuyển .
· Tiếp tế thả dù;
· Huấn luyện và cung cấp Quân Khuyển. (Xem thêm chi tiết trong bài Trung Tâm Huấn Luyện Quân Khuyển của cùng tác giả) ;
· Đảm trách về phương diện Chung Sự;
· Nông mục vv…

Huy hiệu Cục Quân Nhu t́m thấy trên mạng
Khẩu hiệu Nghành Quân Nhu : Quân Sung - Nhu Hùng (tài liệu [4] )
Giám đốc, Cục Trưởng qua các thời kỳ trích từ tài liệu [4] :
1 Nguyễn Sùng-Sĩ quan Trưng dụng-Đại tá-Giám đốc-1954-1956-Giải ngũ cùng cấp;
2 Tạ Xuân Thuận-Sĩ quan Trưng dụng- Đại tá-Giám đốc-1956-1962-Giải ngũ cùng cấp;
3 Lê Ngọc Triển-Vơ bị Huế K2-Trung tá- Giám đốc-1962-1963;
4 Hồ Văn Di Hinh-Vơ khoa Thủ Đức K1- Trung tá- Giám đốc-1963-1966-Thăng cấp Đại tá tại nhiệm (1966). Chức vụ sau cùng: Tỉnh trưởng, Tiểu khu trưởng Tuyên Đức kiêm Thị trưởng Thị xă Đà Lạt. Giải ngũ cùng cấp;
5 Nguyễn Tử Đóa-Vơ khoa Thủ Đức K2- Trung tá-Cục trưởng-1966-1969-Thăng cấp Đại tá tại nhiệm (1968);
6 Đỗ Xuân Sinh-Vơ bị Đà Lạt K3-Đại tá- Cục trưởng-1969-Chức vụ sau cùng: Cục trưởng Cục Xă Hội;
7 Nguyễn Tử Đóa- Vơ khoa Thủ Đức K2- Đại tá- Cục trưởng-1969-1972-Tái nhiệm lần thứ hai. Chức vụ sau cùng: Trưởng ban Quân sự 4 bên;
8 Nguyễn Hữu Bầu-Vơ bị Đà Lạt K6- Đại tá- Cục trưởng-1972-1/1975- Chức vụ sau cùng: Đổng lư văn pḥng Bộ Quốc pḥng;
9 Đỗ Trọng Cương-Vơ khoa Thủ Đức- Đại tá- Cục trưởng-1/1975-3/1975;
10 Nguyễn Thuế Hiệp-Vơ bị Đà Lạt K6- Đại tá- Cục trưởng-3/1975-4/1975.
Đồng hành với các đơn vị tiếp vận khác trong Tổng Cục Tiếp Vận, Cục Quân Nhu đă làm tṛn trách vụ cho đến cuối tháng 4 năm 1975.
Tài liệu tham khảo :
1. https://linhvnch.wordpress.com/nganh-quan-nhu-vnch/ Ngành Quân Nhu VNCH.
2. https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/gia-dinh-luc-quan-cong-xuong-hoi-ngo-thuong-nien/ Gia Đ́nh Lục Quân Công Xưởng Hội Ngộ Thường Niên - Last update:July 9, 2016 .
3. https://www.ngo-quyen.org/p41a9964/55/kim-loan-mien-nam-yeu-dau Kim Loan-Miền Nam Yêu Dấu .
4. https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_nhu_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Quân Nhu Việt Nam Cộng Ḥa.
Phụ đề 2 : Tổng Kho Long B́nh
Theo tài liệu [1] & [2] :
Tổng Kho Long B́nh là một kho vũ khí nằm ở Biên Ḥa được Hoa Kỳ xây dựng từ giữa năm 1965. Tổng Kho Long B́nh nằm cách Sài G̣n khoảng 20 cây số về phía đông, cách thành phố Biên Hoà khoảng 7 cây số .
Tổng Kho Long B́nh là nơi đặt Bộ tư lệnh dă chiến II và Bộ tư lệnh Hậu cần số 1 của Hoa Kỳ , nơi đây cũng là kho bom, đạn lớn của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam.
Tổng Kho Long B́nh là nơi làm việc của 60.000 nhân viên, tương đương quy mô dân số một thị trấn lớn của Mỹ.
Theo các tài liệu thống kê để lại cho biết: Lượng đạn dược được chuyển đến Việt Nam trung b́nh khoảng 40.000 tấn/tháng trong năm 1966, một năm sau số lượng đă tăng lên gần gấp đôi đạt 75.000 tấn/tháng vào năm 1967.
Đầu năm 1968, số lượng vận chuyển đă tăng lên đến 90.000 tấn/tháng, đến giữa năm 1968 số lượng đă vượt quá 100.000 tấn/tháng.
Đấy mới chỉ là khối lượng đạn dược. C̣n để phục vụ đầy đủ cho một đội quân nhà nghề "được trang bị tới tận răng" như quân đội Mỹ th́ c̣n biết bao nhiêu thứ quân trang, quân dụng khác.
Từ các phương tiện chiến tranh như máy bay, xe tăng, pháo cối... cùng với khí tài vật tư dự trữ phục vụ sửa chữa, bảo dưỡng trang bị cho đến lương thực thực phẩm, quân trang quân dụng, đồ dùng sinh hoạt... của mỗi người lính c̣n cao gấp nhiều lần con số đó.
Trong khi đó, theo yêu cầu của Bộ tư lệnh quân viễn chinh Mỹ tại Nam Việt Nam th́ số lượng vật chất dự trữ phải đảm bảo đủ cho quân đội sử dụng ít nhất là 6 tháng.
Và đó chính là lư do bức bách mà Mỹ phải tiến hành xây dựng Tổng kho dự trữ chiến lược tại Long B́nh, một địa điểm vừa thuận lợi cho quá tŕnh tiếp nhận hàng hóa, đồng thời cũng có thể nhanh chóng tiếp tế cho cả 4 vùng chiến thuật và Biệt khu Thủ Đô.
Với quy mô như vậy, Tổng Kho Long B́nh được xây dựng trên diện tích khoảng 24 cây số vuông với hàng chục phân kho. Mỗi phân kho bao gồm hàng chục dăy nhà kho cả nổi cả ch́m tùy theo loại hàng hóa mà nó chứa trong đó.
Các nhà kho nổi thường được làm bằng nhà thép tiền chế khẩu độ rộng với chiều dài từ vài chục đến hàng trăm mét. C̣n các kho ch́m dùng để chứa bom đạn, hóa chất... th́ thường có mái ṿm bằng tôn dày, sau đó đổ đất lên trên.
Xung quanh các nhà kho thường có lũy đất hoặc thùng phuy sắt đổ đất xếp chồng lên nhau bảo vệ. Một số hàng hóa cồng kềnh, nặng nề như máy bay trực thăng, xe tăng, xe thiết giáp, nhất là số cũ hỏng đem về đổi và sửa chữa th́ để ở ngoài trời...
Để ra vào Tổng Kho có 12 cổng mở theo nhiều hướng khác nhau với hệ thống đường sá rất hiện đại. Hàng ngày có hàng ngàn chuyến xe trọng tải lớn ra vào song không bao giờ có hiện tượng ùn tắc xảy ra.
Với khối lượng hàng hóa tàng trữ trong kho lên đến hàng chục triệu tấn, Tổng Kho Long B́nh trở thành kho dự trữ chiến lược lớn nhất ngoài nước Mỹ của quân đội Hoa Kỳ và được quản lư bằng máy tính IBM 360/50 , một trong những hệ thống máy tính hiện đại nhất thời đó.
Trong Tổng Kho có hai khu kho quan trọng là khu kho Đồi 50 và Đồi 53. Kho Đồi 53 có diện tích 3,75 cây số vuông, có 18 dăy nhà kho với khoảng 200 gian kho, được chia làm 3 khu, mỗi khu có 6 dăy, mỗi dăy cách nhau 100 mét và khoảng cách của những nhà kho đặt cách nhau 60 mét.Nhà kho xây h́nh khối chữ nhật (30m x 25m x 5,5m), cửa thép có khóa sắt và những ụ đất dày từ 4 mét đến 5 mét ở xung quanh.
Do tính chất quan trọng như vậy,Tổng Kho Long B́nh được xây dựng để pḥng thủ một cách rất chặt chẽ, xung quanh được bao bọc từ 7 đến 12 lớp rào kẽm gai, kết hợp gài ḿn và lựu đạn. Những lô cốt tiền duyên đặt cách nhau từ 30 mét đến 40 mét, chúng nằm cách lớp rào cuối cùng từ 40 mét đến 50 mét. Rất nhiều tuyến hào nối các lô cốt, đường đi, lối lại ngang dọc, hai bên đường đều rải hàng rào kẽm gai ở bên trong.
Phía trong hàng rào có đường dành cho xe tuần tra. Dọc đường tuần tra, cứ vài trăm mét lại có một tháp canh, trên đó được trang bị đèn pha cực mạnh để chiếu sáng ban đêm. Giữa các phân kho cũng có hàng rào dây thép gai.
Phía trong và ngoài hàng rào đều bị phát quang. Toàn bộ phần bên trong kho gần như không có cây xanh lớn, chỉ có loại cỏ Mỹ mà lá sắc như dao. Đảm nhiệm công tác bảo vệ kho thường xuyên là 2000 sĩ quan, binh lính.
Ngoài ra, c̣n một số đơn vị chiến đấu cũng có doanh trại trong khuôn viên kho nhưng được ngăn cách đặc biệt với kho hàng.
Có điều không hiểu sao trong khi các nhà kho xây dựng rất vững chắc, lâu bền th́ nhà ở của sĩ quan, binh lính và nhân viên trong kho lại khá đơn giản và có vẻ ngắn hạn. Đó thường là loại nhà làm bằng gỗ xẻ lợp tôn.
Các thanh gỗ kích thước 15 x 6 cm được lắp ghép thành khung nhà (chỗ nào là cột th́ ghép 2-3 thanh bằng đinh rồi bắt bu lông xuống nền bê tông), mặt trong vách dùng gỗ dán, mặt ngoài gỗ xẻ "lợp" như vẩy cá.
Giữa hai lớp là chất chống nóng khá giống mùn cưa. Sàn cũng bằng gỗ xẻ và trải một lớp nhựa mỏng. Nhà ở của sĩ quan thường là nhà 2 tầng, pḥng có máy điều ḥa nhiệt độ; c̣n binh sĩ và nhân viên th́ ở nhà 1 tầng, khu vệ sinh chung.
Mặc dù được bảo vệ như vậy song Tổng Kho Long B́nh cũng bị đặc công việt cộng tấn công nhiều lần.
Từ khi thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", quân đội Mỹ giảm dần sự hiện diện tại chiến trường miền Nam. Cho đến khi Hiệp định Paris được kư kết, quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam th́ Tổng Kho Long B́nh cũng từng bước được bàn giao cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH).
Khi về tay VNCH, lượng hàng hóa trong kho vẫn c̣n tương đối phong phú nên quân lực VNCH vẫn khá dồi dào về nhiên liệu, đạn dược.
Các tài liệu lưu trữ cho thấy: Tháng 2 năm1973, quân lực VNCH đă sử dụng 78.000 tấn bom đạn, nghĩa là gần bằng những tháng cao điểm khi c̣n quân Mỹ. Trong cả năm 1973, VNCH sử dụng 326.000 tấn bom đạn, nhiều nhất từ trước đến lúc ấy.
Tuy nhiên, của kho không vô tận. Cùng với lượng viện trợ của chính phủ Mỹ giảm dần từ 1,4 tỷ USD/ năm xuống 700 triệu, rồi 300 triệu USD/ năm, lượng hàng hóa viện trợ cũng giảm sút nhanh chóng.
Theo hồi kư của ông Nguyễn Bá Cẩn, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện và Thủ Tướng Việt Nam Cộng Ḥa áp chót th́ từ năm 1973 trở đi, lượng hàng hóa, vật tư dự trữ trong Tổng Kho Long B́nh chỉ đủ cho quân đội 3 tháng thay v́ 6 tháng như trước đây.
Mùa Xuân năm 1975, sau những thất bại liên tiếp tại Quân khu I và II ,Tổng Kho Long B́nh được lệnh phân tán về địa bàn Quân khu IV .Tuy nhiên, công việc này được triển khai chậm và thiếu tính tổ chức nên không mấy hiệu quả và thất thoát nhiều.
Hăy nghe một sĩ quan VNCH thuộc Quân đoàn 4 hồi tưởng:
"Ngày 28.4.1975 ,Ban chỉ huy Trung đoàn đóng tại Trường Trung học Cần Giuộc. Phía trước là đồng ruộng, sau mùa gặt nên đất đă khô và trơ những gốc rạ. Tổng Kho Long B́nh có lệnh phân tán quân trang quân dụng nên đă đưa xuống đây cả mấy chục chiếc GMC và xe JEEP các loại kèm theo một lệnh miệng: Mỗi xe chỉ có đầy b́nh xăng, sử dụng chiếc nào đến hết xăng là bỏ luôn. Vừa xe, vừa gạo và quân trang chất thành những đống cao giữa trời, trên những đám ruộng khô".
Dưới đây là những h́nh ảnh về Tổng Kho Long B́nh trích từ tài liệu [3] :

Không ảnh một góc Tổng Kho Long B́nh năm 1969

Đường vào Tổng Kho Long B́nh năm 1968

Các nhà kho chứa đạn dược ở Tổng Kho Long B́nh

Khu doanh trại bên trong Tổng Kho Long B́nh

Khu bệnh xá quy mô khổng lồ ở Long B́nh năm 1966-1967

Góc nh́n gần về khu bệnh xá năm 1966

Khu vực quây tấm thép là hồ bơi (piscine) dành cho sĩ quan cao cấp Mỹ

Rạp chiếu phim dành cho các sĩ quan cao cấp năm 1969

Không ảnh Tổng Kho Long B́nh , ở chính giữa h́nh là nhà hát năm 1969

Nhà hát ngoài trời ở Long B́nh năm 1969

Khán đài nhà hát chật kín lính Mỹ trong một buổi diễn
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_kho_Long_B%C3%ACnh Tổng kho Long B́nh .
2. https://www.facebook.com/nguyen.thanh.980967/posts/t%E1%BB%95ng-kho-long-b%C3%ACnh-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-kho-ng%E1%BA%A7m-%C4%91%C3%A3-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-m%E1%BB%9F-kh%C3%B3a-hay-ch%C6%B0at%E1%BB%95ng-kho-long-b%C3%ACnh-/10094844340638536/ Thanh Nguyễn - 5 août 2025 -Tổng Kho Long B́nh : Hệ Thống Kho Ngầm đă được mở Khóa hay chưa ?
3. https://redsvn.net/chum-anh-tong-kho-long-binh-can-cu-quan-su-lon-nhat-cua-my-o-viet-nam2/ ⠀ Posted on 20/03/2022 - Chùm ảnh: Tổng kho Long B́nh – căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ ở Việt Nam ,
Phụ đề 3 : Các Trung Tâm Điện Toán của Việt Nam Cộng Ḥa
Theo tài liệu [1] :
VNCH-Ngoc Truong (Danlambao) – Bốn tháng trước, ông xếp cũ vĩnh viễn ra đi, một bài viết ngắn ngủi nhắc chuyện ở Việt Nam thân yêu, coi như lời chia tay với người đă khuất. Tuần qua, con một người bạn muốn biết về computer ở Việt Nam trước đây, cháu đang viết luận án về điện toán của VNCH. Trên internet chỉ lèo tèo vài trang web không đầy đủ thông tin, moi móc trí nhớ, lục lại h́nh ảnh, dù biết sẽ gợi nhiều kỷ niệm về VNCH.
“…Just some information, I hope it helps…”, tôi nói với cô cháu gái giỏi tiếng Anh hơn tiếng Việt, nay đă lớn lắm rồi.
Hy vọng đây là lần sau cùng đề cập về “ngày xưa”, làm rạng rỡ VNCH và cung cấp thông tin cho các em muốn t́m hiểu về: “Computers in Vietnam. What did you guys do?”
Sơ lược hiện diện của công ty IBM tại Việt Nam:
IBM 360/40 Tổng Nha Ngân Sách, Ngoại Viện
1951 – IBM mở Văn pḥng Dịch vụ tại Sài G̣n;
1952 – Văn pḥng chi nhánh Hà Nội đóng cửa;
1953 – Kho quân dụng Sài G̣n dùng máy IBM;
1958 – Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, thăm Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện (NSNV) đang được IBM gắn máy tại Sài G̣n;
1963 – Máy quay băng từ tính 1401 tăng cường cho hệ thống đă có của Tổng Nha NSNV;
1967 – IBM Việt Nam trở thành chi nhánh của IBM, Công Ty Thương mại Thế Giới (IBM World Trade Corporation) vào tháng Mười, Tổng Giám Đốc độc lập do IBM Mỹ bổ nhiệm, gọi là IBM-Việt Nam ngang hàng IBM các quốc gia khác như IBM-Japan, IBM-Taiwan…
1968 – Hệ thống IBM 360/20 ghi trên băng từ, thay thế máy ghi dữ kiện kiểu cũ, thiết trí tại Trung Tâm Điện Biến Dữ Kiện Saigon- thuộc Bộ Tài chánh, hệ thống 360 đầu tiên tại Việt Nam;
1971 – Hệ thống IBM 360/40 được thiết đặt cho Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện Việt Nam.
Máy IBM 360/40, máy quay băng 2401, máy in 1403
VNCH có tất cả 24 TTDT (Trung Tâm Điện Toán- TTĐT), lớn nhỏ, do viện trợ của chính phủ hoặc quân đội Hoa Kỳ, hoặc tự mướn dài hạn của công ty IBM-Vietnam.
Chuyên viên kỹ thuật bảo tŕ IBM (người Việt) phụ trách gắn máy móc và sửa chữa.
Chuyên viên nhu liệu yểm trợ, huấn luyện cho nhân viên của khách hàng có thuê máy, hầu biết cách sử dụng theo nhu cầu công việc mỗi nơi.
1- TTDT Bộ Quốc pḥng: Máy IBM 360/20: phụ trách hồ sơ nhân lực, ghi tên thanh niên trong hạn tuổi nhập ngũ, các trường hợp miễn dịch sức khỏe, hay hoăn dịch v́ lư đó học vấn, tu sĩ, chuyên viên tối cần thiết, gia cảnh con một… Lương bổng toàn Quân Lực Việt Nam CộngḤa (QLVNCH) cũng do nơi nầy quản trị và khai thác. Ngân sách quốc pḥng đệ tŕnh cho chính phủ, Tổng Thống VNCH.
2- TTDT An bài điện tử, sau đổi tên TTDT nhân viên, thuộc Pḥng Tổng Quản Trị, Bộ TTM QLVNCH: Trang bị hệ thống 360/40 thuê dài hạn của IBM-Vietnam, sử dụng hệ thống điều hành DOS (Disk operating system). Giàn máy quay băng từ tính (tape drive) rất tân tiến nhập từ IBM Tây Đức không bao lâu.
Đặc trách quân số, hồ sơ quân nhân, thăng thưởng, thuyên chuyển, quân bạ, gia cảnh. Điện toán hóa thủ tục hành chánh toàn quân.
Hồ sơ quân vụ của QLVNCH được quân đội Mỹ copy mang đi trước khi cộng sản vào đến Sài g̣n. Hồ sơ di tản, di dân, xin định cư tại Hoa kỳ của quân nhân, sĩ quan QLVNCH đều được t́nh báo và an ninh di trú Mỹ đối chiếu với hồ sơ gốc của QLVNCH, đề pḥng gián điệp cộng sản, hoặc các cá nhân khai man, tạo hồ sơ giả…
Khi cộng sản vào Bộ Tổng Tham mưu, Đại tá, Chỉ huy trưởng Chu Văn Hồ không tuân lịnh phá hủy, ở lại gặp cộng sản, tự tay bàn giao, chỉ dẫn cặn kẽ máy móc. Sau đó, ông ta cũng bị tống cổ đi “cải tạo tư tưởng” vài năm, trở về dạy kèm tiếng Anh sinh sống, sau cùng đến Hoa Kỳ qua chương tŕnh H.O.
(Xem thêm chi tiết về Nhiệm Vụ của Pḥng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu trong bài Trường Tổng Quản Trị của cùng tác giả) .
3- TTDT Tiếp vận, thuộc Tổng Cục Tiếp Vận, Bộ TTM, QLVNCH: Chuyên lo công tác tiếp vận toàn quân, dự trữ quân trang, quân dụng, vơ khí, số lượng tàu, số lượng phi cơ, lương thực toàn quân. Máy 360/50 được quân đội Mỹ bàn giao từ bộ chỉ huy quân sự MACV. Giàn máy mạnh nhất trong khu Á châu, khi ấy Singapore chỉ có một giàn máy IBM duy nhất tương tự như hệ thống này.
360/50 trước khi giao cho QLVNCH, được quân đội Hoa kỳ dùng điều động phi cơ trên toàn lănh thổ Việt Nam.
Một số hồ sơ quan trọng của trung tâm được quân đội Hoa Kỳ chuyển đi trước khi cộng sản chiếm Tân Sơn Nhứt, trụ sở trung tâm nằm trong yếu khu Tân Sơn Nhứt, không xa đường vào phi cảng.
Bộ Quốc Gia Giáo Dục nhờ TTDT Tiếp vận điện toán hóa kỳ thi Tú tài II 1973-1974. Với giàn máy mạnh nhất Việt Nam, vừa sâu trong yếu khu Tân Sơn Nhứt, lại là đơn vị quân đội nên rất kỷ luật và canh gác cẩn mật. Tính bảo mật kết quả thi Tú Tài rất cao, công việc nhanh hơn dự định, tiết kiệm nhiều chi phí cho Bộ Giáo Dục.
IBM 360/50 bảng điều khiển và kiểm soát (CPU console).
4- TTDT Phủ Thủ tướng VNCH: Nằm cạnh Phú Thủ tướng đường Thống Nhất, Sài G̣n, trang bị mạnh ngang với TTDT Tiếp vận của quân đội, giàn máy 360/50 thứ nh́ ở Việt Nam do USAID trao lại. Toàn vùng Đông Nam Á không máy điện toán nào hùng hậu hơn hai giàn máy ở Việt Nam.
USAID (Cơ quan viện trợ của chính phủ Hoa Kỳ), quản trị tiền viện trợ kinh tế của Mỹ, công việc xuất nhập cảng của các nhà kỹ nghệ, sản xuất Việt Nam cần ngoại tệ (US dollar) nhập máy móc về Việt Nam như máy xay lúa, máy ấp trứng gà kỹ nghệ, các giàn máy của công ty dệt (Vinatexco, Vimytex, Sakymen,…), nguyên liệu sản xuất xà bông giặt đồ (Viso), xà bông thơm (hăng Trương văn Bền- xà bông cô Ba), và hàng trăm ngành sản xuất khác. USAID sẽ cung cấp tiền US đô la cho các dự án sản xuất nầy.
Trong khi đó ngoài tệ sở hữu (của riêng chính phủ VNCH) được dùng cho công việc sống c̣n như nhập cảng gạo các loại, dược phẩm chữa bịnh, dụng cụ y khoa, nha khoa.. Nhập cảng xăng cho xe cộ dân chúng, các xe công cộng, xe đ̣. Dầu chạy máy điện khắp 47 tỉnh của VNCH. Trợ cấp sinh viên du học ngoại quốc (rồi một đám bọn này theo cộng sản chống VNCH!)
Hệ thống OS, từng in liên tục ngày đêm bằng khoán cho các sở hữu chủ trong chương tŕnh Người cày có ruộng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Chương tŕnh b́nh định và phát triển nông thôn của chính phủ được khai thác nhờ hệ thống điện toán vừa nhanh, mạnh và chính xác. Cũng phải nói tới Kế hoạch kinh tế hậu chiến do người thầy khả kính, Giáo sư Vũ Quốc Thúc, Thạc Sĩ Kinh Tế (Agrégé) và các chuyên viên thượng thặng nghiên cứu trong nhiều năm dự án phát triển đất nước khi chiến tranh chấm dứt, mặc dù tiếng súng vẫn vang rền. Việt cộng sau này dùng tài liệu nghiên cứu Kinh tế hậu chiến làm căn bản xây dựng kinh tế của chúng, nhưng pha chế không cân nhắc, biến đổi chương tŕnh thành quái thai, rồi gọi đó là mở cửa, tiến lên xă hội hỗn loạn theo kiểu cộng sản.
IBM 370/135, tài liệu riêng
5- TTDT Cảnh sát quốc gia: khai thác công việc cho Bộ Nội Vụ VNCH và Tổng Nha Cảnh Sát bao gồm lương bổng, hồ sơ nhân viên tất cả cảnh sát viên VNCH, và nhân viên dân sự phục vụ các cơ quan cảnh sát (thư kư văn pḥng, phát ngân) khắp lănh thổ.
Hồ sơ căn cước được lưu trữ và điều hành từ hệ thống OS máy 360/40, hồ sơ tội phạm toàn quốc, hồ sơ an ninh việt cộng khủng bố. Vũ khí, đồng phục cảnh sát, kho lương thực, số lượng xăng cho xe cộ, số tàu tuần trên sông, ngân sách hàng năm đều điện toán hóa và lưu trữ trên dĩa nhựa từ tính (disk pack).
6- TTDT Công ty Điện Lực Việt Nam: Trụ sở gần văn pḥng chính đường Hai bà Trưng, Sài G̣n. Trang bị máy 360/20 năm 1968, đến 1973 nâng lên 360/40 mướn dài hạn của IBM-Vietnam, hệ thống điều hành DOS (Disk Operating System), khá mạnh. Công việc bao gồm tính toán điện lượng sản xuất, điều hợp điện năng Saigon và các tỉnh. In hóa đơn tiền điện khu Saigon và các tỉnh, nguồn tiền giúp công ty hoạt động. Do Cty Điện Lực Việt Nam trực thuộc Bộ Công Chánh nên đồng thời cũng yểm trợ công việc thuộc Bộ này, cũng như một số Nha, sở khác cũng thuộc Bộ Công Chánh cần các chương tŕnh báo cáo điện toán hóa. Lương bổng, kế toán, hàng hóa tồn kho (lượng dầu chạy máy phát điện), tính toán lượng nước đập thủy điện Đa Nhim. Hoặc soạn thảo kế hoạch phát triển đồng bằng sông Cửu Long do LHQ trợ giúp tài chánh và kỹ thuật.
Điện toán Điện Lực thu hút một số sinh viên du học ngành điện toán trở về từ: Mỹ (qua học bổng giáo dục USAID), Úc, Pháp, Tân Tây Lan.
Năm 1983, Điện Lực mua lại hệ thống 370/135 (used – đă dùng rồi) của Pháp qua trung gian công ty của người Pháp gốc Việt, tại Paris, Việt Nam bị Mỹ phong tỏa kinh tế lúc ấy, do đó cty Việt kiều măn khai với quan thuế Pháp máy chở đi Algerie, nhưng đổi đường vận chuyển về Việt Nam. Giàn máy IBM 370/135 duy nhất Việt Nam, năm sau máy bắt đầu hoạt động song song với giàn 360/40 (quá cũ, sửa chữa rất nhiều). Sách vở tài liệu do Việt kiều Pháp cung cấp theo thỏa thuận mua máy. Việc sửa chữa, thiết trí, bảo tŕ do các kỹ thuật viên trong xứ đảm nhiệm.
7- TTDT – Tổng Nha Ngân Sách, Ngoại Viện: Đàn anh tiên phong với giàn máy 360/20 đầu tiên, sau đó tiến lên 360/40 DOS, đặc biệt chăm lo vấn đề ngân sách của VNCH, đồng thời báo cáo lên chính phủ và Tổng Thống tổng số ngoại viện VNCH nhận được, ngoại viện có thể từ Mỹ, Úc, Pháp, Taiwan, Ư, Anh trong lănh vực kinh tế, quốc pḥng, giáo dục. Tổng Nha có quyền thuận hay bác các Bộ khi xin chi phí, việc ǵ cần (theo quy định chính phủ) mới được cấp ngân sách, luôn luôn phải mua hàng hóa trong nước. Chỉ khi nào trong nước không sản xuất được, lúc ấy mới xét nên mua ở quốc gia khác.
Tổng giám đốc Tổng Nha ngân sách ngoại viên thường đóng vai tṛ cố vấn tải chánh cho Tổng Thống VNCH. Vai vế chỉ Tổng Giám đốc, nhưng uy tín và tiếng nói ông này mạnh hơn cả các Bộ trưởng.
Máy IBM 360/20 và máy đọc phiếu 2501
Khi cộng sản chiếm đóng miền Nam, các TTDT vẫn trong t́nh trạng hoạt động rất tốt.
Ngoại trừ, TTDT của Saigon ngân hàng, hệ thống System 3, mới đặt ở Saigon hơn một năm bị dân chúng phá hoại, trộm cắp, chỉ c̣n giàn máy trơ trọi không hoạt động.
Đại đa số nhân viên các cấp từ phân tích viên hệ thống (system analyst) đến thảo chương viên (programmer), điều hành viên (operator), cũng như nhân viên sửa máy của công ty IBM-Vietnam (CE- customer engineer), hay chuyên viên nhu liệu (SE- system engineer) c̣n khá đông đủ, chỉ một số rất ít ra đi.
Nhiều năm về sau, thành phần kỹ thuật nói trên bằng mọi cách bỏ xứ ra đi, chạy trốn chế độ CS tàn bạo, vô nhân tính không có tầm nh́n kỹ thuật cởi mở. Chúng đến thăm các TTDT, ra vẻ ta là kẻ chiến thắng, nhưng lại mang mặc cảm thua kém toàn diện, từ kỹ thuật, đến văn hóa, đến tư cách giáo dục của từng con người. CS từ Bắc vào lần lượt khoe khoang máy Minsk 32 (của Nga ăn cắp kỹ thuật Mỹ IBM) hay Odra (đọc theo kiểu VC – ô đờ ra) máy điện toán Ba Lan sản xuất cũng nhái kiểu IBM 360, nhưng chính tại Ba Lan, xứ nầy thích máy IBM hơn,
Khi một anh “kỹ sư máy tính” của Hà Nội vào, che che, dấu dấu xấp tài liệu in trên giấy vàng cũ mèm của Trung cộng, tiếng Tàu in dưới từng hàng chữ tiếng Anh về IBM 360 theo tài liệu gốc của Mỹ. Thấy buồn cười, tôi vào thư viện TTDT, lôi ra bản gốc của IBM in bằng tiếng Anh, giấy trắng tinh cho hắn đọc. Đó là quyển sách vở ḷng ai làm trong lănh vực điện toán cũng phải xem qua lúc nhập môn.
Do phong tỏa kinh tế, không có phụ tùng thay thế, các giàn máy hư hỏng càng nhiều, mạch điện tử bị thay thế rối loạn và cũng không có nhiều chuyên viên biết sửa máy, mất nhân tài do vượt biên trốn thoát CS, đến 1987 hầu hết các TTDT hoạt động cầm chừng, quay sang cho các trường đại học thuê giờ máy lấy đó làm lợi tức nuôi nhân viên. Trung b́nh, các TTDT hoạt động 8-10 tiếng một ngày, vài nơi móc nối Việt kiều Pháp mua giùm phụ tùng lặt vặt, giờ hoạt động nhiều hơn chút đỉnh.
Đồng thời, năm 1981 IBM tung ra PC (personal computer) đầu tiên, sau đó XT, rồi AT (advanced technology) loại desktop (máy để bàn) c̣n đến bây giờ, các công ty nhỏ như Compaq, tái tạo kỹ thuật (reversed engineering), chế các máy clone (đă qua tái tạo kỹ thuật) giống y như máy IBM, hoạt động từ bằng cho đến hơn máy IBM.
Thị trường clone sống mạnh, máy clone từ Singapore và Taiwan nhập về Việt Nam (qua các tàu buôn viễn dương của VC đi Singapore mua bán hàng).
Năm 1983, công ty Kỹ thuật máy tính (trụ sở cũ của IBM-Vietnam) nhập khoảng nửa tá AT và XT (khả năng yếu hơn AT và chạy chậm) clone vào Saigon, thị trường PC (gọi là vi tính- dịch chữ micro processor bộ phận tính toán cực nhỏ) bắt đầu rần rộ. Các TTDT lần lượt suy sụp, chuyển qua PC, rẽ, kỹ thuật mới hơn, loại máy lớn (mainframe) biến mất theo thời gian.
Tóm tắt, tuy VNCH lúc đó đang trong thời kỳ chiến tranh,bị phá hoại nhiều, quốc gia xây lên bao nhiêu, cộng sản t́m cách phá hoại bấy nhiêu ở mọi lănh vực. Nền kỹ thuật điện toán rất mới vào thập niên 60 và đầu 70, chuyên viên điện toán không nhiều, khái niệm điện toán hóa c̣n rất mới, ít nhiều mọi người có nghe nói và luôn liên tưởng điện toán tức là IBM. Kể cũng đúng, IBM là bá chủ thế giới thời gian đó về kỹ thuật tiên phong. VNCH đầu tư khá nhiều trong lănh vực máy móc (24 trung tâm điện toán), đa số các trung tâm dùng máy thuê dài hạn của IBM, rồi nâng cấp lên máy chạy nhanh hơn, có khả năng lớn hơn, cho ra kết quả trong thời gian ngắn nhất, nhanh nhất. Hơn hẳn so với Bắc Việt, lèo tèo trên dưới chục máy, vừa cũ, kỹ thuật xưa, chạy chậm. Đồng thời chuyên viên kỹ thuật làm việc trong không khí lười biếng cho qua ngày kiểu xă hội ăn không no, làm chi nhiều !
Chuyên viên kỹ thuật ra đi tứ tán khắp thế giới, thành phần quân nhân QLVNCH bị tù đày CS, trở về sống lây lất không việc làm. Thành phần dân sự, cũng vượt biên bỏ trốn chế độ CS độc đoán. Phần lớn ở Mỹ, Canada, đôi khi ở Úc, Đức và Pháp.
Dự án phát triển điện toán rất mạnh, nhiều cơ quan chánh phủ cũng như tư nhân dự định mua/mướn máy, hoặc nâng cấp lên:
– Bộ Giáo Dục.
– BGI.
– Công ty xăng Esso.
– Bộ Kinh tế.
– Công ty Điện Lực Việt Nam, kư kết hợp đồng năm 1974 mua IBM 370/145 rất mới thời điểm đó. IBM đồng ư bán, rồi chần chừ, nói rằng máy 370 chưa hoàn vốn, Việt Nam đang có chiến tranh, nếu máy bị hư hỏng, phá hoại, họ sẽ mất vốn và không muốn kỹ thuật vào tay CS.
Việc Hoa kỳ bỏ chạy khỏi Việt Nam, giới kinh doanh siêu quốc gia như IBM, ngân hàng Chase Manhattan, đều biết trước trong thời gian cuối 1974. Giới ngoại giao (Ư, Pháp, Anh) ở Saigon dặn ḍ những người thân cận rằng khi thấy Dương Văn Minh cầm quyền là kết thúc của VNCH.
Thêm một chứng minh, việc Hoa Kỳ bỏ Việt Nam có dự tính trước, cắt và ngưng viện trợ quân sự theo sắp xếp từ lâu, hoàn toàn không do VC tấn công, hay quân sự giỏi. Thỏa thuận dàn xếp giữa Mỹ, Tàu cộng, Nga đă có khi Tàu cộng chiếm Hoàng Sa của VNCH, hay trước nữa trong lúc thương lượng hiệp định Paris 1973.
Quốc gia mất, mất tất cả.
Máy móc, phương tiện vật chất tàn theo thời gian. Dân kỹ thuật cũng không mấy ai muốn nhắc tới việc ḿnh làm, cũng không có ǵ đang khoe khoang, đơn giản “…doing my job”, những thành tựu đă qua chỉ người trong cuộc mới biết.
Tuy không làm được điều ǵ lớn cho quốc gia, không anh hùng như những chiến sĩ xông pha hay đổ máu ngoài mặt trận, nhưng ít nhất cũng làm tṛn và làm hay hơn nhiệm vụ được giao phó.
Hăng say và cuồng nhiệt của tuổi trẻ đă góp phần khiêm nhường xây dựng đất nước trong chiến tranh, không rắp tâm bán nước, quỳ lạy mất tư cách con người, như thanh niên nào vừa làm ở Việt Nam.
Phụ lục: Các TTDT ở Sài g̣n, VNCH
1/ 360/50 OS (Operating System), 512K memory.
TTDT Phủ Thủ Tướng.
TTDT Tiếp Vận (QLVNCH).
2/ 360/40 OS, 256K memory.
TTDT Tổng Nha Cảnh Sát Quốc gia.
3/ 360/40 DOS, 128K memory.
TTDT Cty Điện Lực Việt Nam.
TTDT Nhân viên QLVNCH.
Cty IBM- Vietnam.
4/ 360/40 DOS,64K memory
TTDT Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện, Bộ Tài Chánh.
5/ 360/30
PACIFIC- Hăng thầu US.
6/ 360/20 DPS (Disk Programming System) 16K memory
Saigon Thủy cục.
Hỏa Xa Việt Nam.
Tổng Nha Bưu Điện.
Air Vietnam.
Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam.
Ngân Khố.
Ngân Hàng Vietnam Thương Tín.
Trung tâm Điện Biến Dữ Kiện, Bộ Tài Chánh.
Bộ Quốc Pḥng VNCH.
Hải Quân VNCH.

BGI (công ty nước ngọt của Pháp).
7/ UNIVAC
Không Quân VNCH đặt tại Biên Ḥa.
8/ RAYTHEON
của công ty Shell Vietnam (cung cấp xăng, dầu).
9/ IBM System 3
Saigon Ngân Hàng.
Tài liệu tham khảo :
1. https://bencublog.wordpress.com/2017/11/14/cac-trung-tam-dien-toan-cua-vnch/ Các trung tâm điện toán của VNCH – November 14, 2017 -13.11.2017 -VNCH-Ngoc Truong danlambaovn.blogspot.com.